7 ông “trạng” lừng danh được dân gian truyền tụng ở đất Việt

7 ông “trạng” lừng danh được dân gian truyền tụng ở đất Việt

Trạng nguyên là học vị cao quý nhất được chấm cho những nhân vật có kiến thức sâu rộng, uyên bác, trí tuệ nổi bật, khác thường.

Lịch sử khoa cử Nho học nước ta trải qua 844 năm (1075-1919) với 185 khoa thi được tổ chức. Thông qua các khoa thi đó, các triều đại phong kiến tiến hành tuyển chọn và sử dụng nhân tài để giúp dân, giúp nước. Ngoài ra, một số người tuy không đỗ trạng nguyên nhưng cũng làm quan, được nhân dân “phong” là trạng do khâm phục tài năng của họ và lưu truyền nhiều giai thoại dân gian, ly kỳ về các ông “trạng” này. Dưới đây là 7 ông “trạng” lừng danh được dân gian truyền tụng ở đất Việt

Trạng Quét

Nhân vật đầu tiên là Lê Quát (có tên khác là Lê Bá Quát), tự là Bá Đạt, hiệu Mai Phong, người làng Phủ Lý, huyện Đông Sơn, lộ Thanh Hóa (nay thuộc xã Thiệu Trung, huyện Đông Sơn, Thanh Hóa), nổi tiếng về tài thơ văn, chuộng chính học, ghét mê tín dị đoan. Năm Giáp Dần (1314) đời Trần Minh Tông, ông thi đỗ thái học sinh, sau làm quan đến chức Thượng thư hữu bật, Nhập nội hành khiển. Lê Quát vốn là ngươi mặt mũi khôi ngô nhưng do nhà nghèo nên không có điều kiện đi học, phải làm nghề quét chợ để kiếm sống, mọi người quen gọi là anh Quét.

Do cơ duyên, Lê Quát lấy được người vợ thông minh, tài giỏi, con gái một viên quan trong vùng; muốn chồng lập nên danh nghiệp, bà đã cùng mẹ chồng lo toan, gánh vác công việc, tần tảo làm ăn buôn bán để có tiền cho chồng đi học. Thời gian đầu Lê Quát học rất tối dạ, dạy mãi không thấy tiến bộ nên thầy đồ đành gọi vợ ông đến trả chồng. Trên đương về nhà gặp một cụ già đang mài thanh sắt để làm kim khâu, qua cây cầu đá thấy nước chảy ăn mòn chân cầu, vợ ông đã lấy những hình ảnh này để động viên, khích lệ chồng. Hiểu được điều đó, Lê Quát quay lại nhà thầy xin tiếp tục học, cố công gắng sức và những nỗ lực của ông đã được đền đáp xứng đáng. Người dân quê hương phục tài chí nên gọi Lê Quát một cách thân mật là Trạng Quét.

7 ông “trạng” lừng danh được dân gian truyền tụng ở đất Việt - Ảnh 1

Trạng Toán

Vũ Hữu tự là Ước Trai, ngươi làng Mộ Trạch, huyện Đường An, phủ Thượng Hồng, thừa tuyên Hải Dương (nay thuộc xã Tân Hồng, huyện Bình Giang, Hải Dương), đỗ hoàng giáp khoa Quý Mùi (1463) đời Lê Thánh Tông, làm quan đến chức Thượng thư Bộ Lễ, tước Tùng Dương hầu. Trong lịch sử toán học nước ta, Vũ Hữu cùng với Lương Thế Vinh được coi là bậc kỳ tài, công trình toán học nổi bật của ông là cuốn Lập thành toán pháp chỉ dẫn phương pháp chia, tính ruộng đất, miêu tả các cách đo đạc, xây dựng nhà cửa, thành lũy.

Một lần vua Lê Thánh Tông giao cho Vũ Hữu chỉ huy việc tu sửa ba cửa Đoan Môn, Đông Hoa và Đại Hưng của kinh đô Thăng Long, ông đã trực tiếp dùng thước đo chiều cao, chiều dài, chiều rộng của các cửa thành và tính ra số gạch đá, vật liệu phải dùng. Kết quả, khi công việc hoàn thành, đá không thừa một tấc, gạch không thiếu một viên, các cửa được sửa chữa không sai một ly. Vua Lê Thánh Tông rất kinh ngạc, khen Vũ Hữu là “Thần Toán” và ban thưởng 100 mẫu ruộng lộc điền, còn người đòi gọi ông là Trạng Toán.

Trạng Vật

Vũ Phong người làng Mộ Trạch, huyện Đường An, phủ Thượng Hồng, thừa tuyên Hải Dương (nay thuộc xã Tân Hồng, huyện Bình Giang, Hải Dương), có vóc dáng rất đặc biệt, người nhỏ thó, lùn thấp; chân, tay, mắt, miệng, mũi đều ngắn, gọi là tướng ngũ đoản nhưng được cái rất nhanh nhẹn, mưu trí, khỏe mạnh và giỏi đánh vật. Một lần lên kinh đô Thăng Long thăm anh là Trạng Toán Vũ Hữu, ông đã thách đấu và vật ngã viên đô lực sĩ của vua Lê Thánh Tông nên được khen ngợi là thần dũng. Sau đó vua phong ông làm “Giao trật Trạng nguyên” (Trạng nguyên đô vật), cho thế chỗ của viên đô lực sĩ kia, sau lên giữ chức cẩm y vệ, từ đó dân gian gọi Vũ Phong là Trạng Vật.

Ông nổi tiếng là ngươi ngay thẳng, siêng năng, từng theo vua đi đánh Lão Qua (Lào) lập công lớn, được thăng làm Úy ty chỉ huy sứ, thống lĩnh đội quân túc vệ bảo vệ hoàng cung. Tài vật của Vũ Phong vang xa đến tận đất Bắc (Trung Hoa), vua Minh khi cho sứ sang nước ta có cử theo một số võ sĩ cao cường, được tuyển lựa kỹ càng. Những võ sĩ này xin thử tài nhưng đều bi ông quật ngã hết. Khi về nước, những chuyện tai nghe mắt thấy về tài của Trạng Vật nước Nam được sứ thần tâu lên; vua Minh rất muốn biết ông là người thế nào bèn viết thư sang nước ta đề nghị khi nào đoàn sứ bộ sang kinh đô Yên Kinh nhớ cho Vũ Phong đi theo.

Không lâu sau, sứ đoàn nước ta, trong đó có Vũ Phong, lên đường sang nước Minh. Khi thấy ông, vua Minh ngạc nhiên không tin ngươi có thân hình nhỏ bé kia lại là Trạng Vật được, bèn cho tỉ thí, hết võ sĩ này đến võ sĩ khác vào đấu đều bị Vũ Phong quật ngã. Vua Minh hết lời khen ngợi, ví ông như Lý Tồn Hiếu, một danh tướng thời Đường tuy người nhỏ bé mà sức khỏe phi thường, lập nhiều công lao. Người nước ta thấy Vũ Phong đi sứ, trổ tài làm chấn động Bắc triều mới đặt lời thơ ca ngợi rằng:

Tướng trông ngũ đoản thế mà tài,

So cùng thiên hạ có thua ai.

Đem chuông đi đấm bên triều Bắc,

Tiếng vọng chuông vang khắp cõi ngoài.

7 ông “trạng” lừng danh được dân gian truyền tụng ở đất Việt - Ảnh 2

Trạng Cầu

Đinh Lưu người làng An Dật, huyện Thanh Lâm, phủ Thượng Hồng, thừa tuyên Hải Dương (nay thuộc xã Thái Tân, huyện Nam Sách, Hải Dương), đỗ thám hoa khoa Bính Thìn (1496) đời Lê Thánh Tông, khi đó ông mới 17 tuổi, sau làm quan đến chức Đông các đại học sĩ. Ngay từ nhỏ Đinh Lưu đã nổi danh là thần đồng và đặc biệt không chỉ giỏi văn thơ mà còn có tài cưỡi ngựa, bắn cung, nhất là giỏi đá cầu, hễ đã đá cầu thì có thể đá mãi mà quả cầu vẫn không rơi xuống đất. Một năm, vào dịp triều đình làm lễ chúc thọ vua Lê Hiến Tông, trong khi các quan đều dâng thơ mừng thì riêng Đinh Lưu xin đá cầu chúc thọ và nói rằng số lần đá mà quả cầu không rơi sẽ ứng với tuổi thọ của nhà vua.

Mọi người ngạc nhiên và lo lắng ông sẽ phạm tội khi quân vì thấy Đinh Lưu đứng trên một chiếc thuyền mà đá cầu. Thế nhưng ông vẫn điềm tĩnh như không, đá đến lượt thứ 89 thì vua truyền tạm dừng nghỉ chân và ban rượu thưởng. Uống rượu xong, Đinh Lưu lại tiếp tục đá đến mấy trăm lượt, mãi đến khi vua phán nghỉ ông mới thôi. Dân gian khen ngợi Đinh Lưu là bậc kỳ tài đá cầu, lại là ngươi có dũng khí và tự tin nên tôn ông là Trạng Cầu. Ngươi ta còn truyền tụng rằng mộ tổ nhà ông nằm ở một quả núi tròn trông giống như quả cầu nên Đinh Lưu mới có biệt tài như vậy.

Trạng Tiếu

Vũ Thoát Dĩnh người làng Bảo Trung, huyện Gia Phúc, phủ Hạ Hồng, xứ Hải Dương (nay thuộc xã Thống Nhất, huyện Gia Lộc, Hải Dương), đỗ tiến sĩ khoa Mậu Tuất (1538) đời Mạc Thái Tông (Mạc Đăng Doanh), làm quan đến chức Tả thị lang, tước Minh Lễ bá. Từ lúc trẻ tuổi ông đã nổi tiếng là giỏi thơ quốc âm và có tính khôi hài, vui vẻ nên sau khi đỗ dân gian đã đặt biệt danh là Trạng Tiếu (Trạng Cười). Hồi còn đi học, có lần tới lớp thi thơ phú, chẳng hiểu vô tình hay hữu ý mà Vũ Thoát Dĩnh giẫm vào chân con gái quan phủ, bị lính bắt về trình quan, quan buộc ông phải làm bản cung, nếu hay sẽ tha tội. Chẳng phải nghĩ ngợi gì lâu, Vũ Thoát Dĩnh cầm bút viết luôn tờ cung như sau:

Quê ở Phủ Hạ

Quán ở Bảo Trung

Nhân vì đi thi

Chợt gặp má hồng

Lỡ chân đạp phải

Vô tù tư cung.

Quan phủ đọc tờ cung thấy lời văn khôi hài, hóm hỉnh bèn tươi cười và tha cho.

Một lần khác, có người đến nhờ viết bài văn để khắc bia mộ cho bố , khi hỏi thì được biết người đã mất từng làm tài quan (một chức quan võ nhỏ), Vũ Thoát Dĩnh viết ngay rằng:

Sinh vi tài quan

Tử nhập quan tài

Kỳ sinh giả vinh

Kỳ tử giả di.

Nghĩa là:

Sống làm tài quan

Chết vào quan tài

Sống thì vinh hiển

Chết thì bi ai.

7 ông “trạng” lừng danh được dân gian truyền tụng ở đất Việt - Ảnh 3

Trạng Ăn

Lê Như Hổ người thôn Vông, xã Tiên Châu, huyện Tiên Lữ, phủ Thượng Hồng, xứ Hải Dương (nay là xã Hồng Lam, huyện Tiên Lữ, Hưng Yên), từ nhỏ đã nổi tiếng là ngươi thông minh, hiếu học, lại có sức khỏe; khi trưởng thành ông có vóc dáng to lớn, khôi ngô, vạm vỡ. Nhà nghèo không đủ ăn nên Lê Như Hổ ở rể một nhà giàu có, mỗi bữa ông ăn hết nồi cơm thổi 16 đấu gạo, ăn càng nhiều học càng chăm. Khoa thi năm Tân Sửu (1541) đời Mạc Hiến Tông (Mạc Phúc Hải), Lê Như Hổ đỗ tam giáp tiến sĩ, sau làm quan đến chức Thượng thư Bộ Binh, tước Xuân Giang hầu, hàm Thiếu bảo.

Có nhiều giai thoại về tài ăn khỏe của ông như lần đãi một người bạn hai mâm cỗ lớn với 4 con lợn béo, 4 chõ xôi to nhưng bạn chỉ ăn được một phần nhỏ còn Lê Như Hổ dùng hết mâm của mình rồi chuyển sang ăn hết mâm kia. Đi sứ phương Bắc, ông đánh chén tì tì hết sạch mâm cỗ cao 18 tầng khiến vua quan nhà Minh trố mắt, kinh ngạc. Trong chuyến đi sứ này, Lê Như Hổ học được nghề làm ô (dù), đem về truyền lại cho dân, vì thế về sau được tôn làm tổ sư nghề làm ô nước ta; dân gian kính phục gọi ông là Trạng Ăn.

Trạng Cờ

Vũ Huyên (có sách chép là Vũ Huyến) quê gốc ở làng Mộ Trạch, trú tại làng Đan Luân, huyện Đường An, phủ Thượng Hồng, xứ Hải Dương (nay thuộc xã Nhân Quyền, huyện Bình Giang, Hải Dương), đỗ tiến sĩ khoa Nhâm Thìn (1712) đời Lê Dụ Tông, làm quan đến chức Đông Các hiệu thư. Tương truyền từ khi sinh ra, trên trán Vũ Huyên có chỗ xương nhô lên trông giống như quân cờ; đến tuổi trưởng thành, ông có tiếng tài giỏi về thơ văn và tinh thông, xuất chúng môn cờ tướng.

Lúc bấy giờ nhà Thanh cử một sứ thần sang nước ta, quen thói hống hách lại tự phụ về tài đánh cờ của mình, sứ Thanh xin cùng vua ta đấu cờ và giao ước nếu mình thắng thì triều đình nước Nam phải nộp cống vật báu. Vua Lê theo kế của Vũ Huyên hẹn sứ Thanh đánh cờ ở trước sân rồng vào lúc chính Ngọ (12 giờ trưa), mỗi bên chỉ có một người lính đứng cầm lọng che nắng. Đóng giả làm lính hầu, trước cuộc đấu cờ Vũ Huyên đã chọc một lỗ thủng nhỏ trên lọng để tia nắng xuyên qua, sau đó ông lựa lúc chiếu vào các quân cờ dẫn dắt nước đi cho nhà vua.

Nhờ đó mà vua Lê thắng liên tiếp ba ván khiến sứ Thanh khâm phục, không dám ngạo mạn nữa. Do lập công lớn, Vũ Huyên được vua thưởng hậu và ban cho danh hiệu “Đấu kỳ Trạng nguyên”, dân gian thì gọi ông là Trạng Cờ rồi đặt câu ca ngợi: Rượu làng Mơ, cờ Mộ Trạch, ý nói rượu ngon nhất thuộc về làng Mơ, không đâu cao cờ bằng dân Mộ Trạch. Mọi ngươi còn truyền tụng câu:

Trạng Cờ Mộ Trạch càng ghê

Sứ Thanh thua cuộc rút xe về thành.

Nguồn tổng hợp

Thẻ: , , , , , , ,

Tin hay cùng chuyên mục