Đọc lại tác phẩm “Khóa hư lục” gợi nhớ Trần Thái Tông

Đọc lại tác phẩm “Khóa hư lục” gợi nhớ Trần Thái Tông

Là một người được đưa lên ngôi vua từ khi còn bé, nhưng chứng kiến cảnh quyền mưu tranh đoạt chốn triều đình, Trần Thái Tông sớm chán nản.

Nhân Đại lễ Phật đản Liên Hiệp Quốc Vesak 2008 nhà soạn nhạc Nguyễn Thiên Đạo có viết một tác phẩm giao hưởng – hợp xướng mang tên Khai giác dài tới 40 phút, gồm 7 chương trên tinh thần cảm nhận “Khoá hư lục” – một bộ kinh Phật giáo Việt Nam hiếm hoi của Tông giáo thực hiện, một tập đại thành triết học tôn giáo thế giới (theo Nguyễn Đăng Thục). Tác phẩm sẽ được 500 ca sĩ, nhạc công, vũ công và dàn họp xướng tăng ni trình tấu trong đại lễ. Với một sự kiện văn hoá đáng ghi nhận như thế, vừa lắng nghe, vừa đọc lại “Khoá hư lục” của Trần Thái Tông, mới thấy vị vua đầu thời Trần quả là vĩ đại, là người đã đưa ra “đạo Việt”.

Tổ tiên dòng dõi nhà Trần có nguồn gốc dân tộc Mân ở quận Tần Châu, tỉnh Phúc Kiến, Trung Hoa, chuyên nghề chài lưới. Bởi vậy, nhà Trần thường lấy tên cá làm tên mình. Ông Trần Thừa – cha của Trần Liễu và Trần Cảnh (tức Trần Thái Tông) vốn tên là Dưa (cá dưa). Trần Liễu vốn tên là Leo (cá leo). Trần Cảnh vốn tên là Canh (cá lành canh). Tất nhiên từ thời Trần Thái Tông lên ngôi, tên các chàng thái tử con vua đã được đổi mới theo những ý nghĩa khác, như Trần Hoảng (Trần Thánh Tông), Trần Ích Tắc, Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật… Khi lập nghiệp ở Việt Nam, nhà Trần ở hương Tức Mặc, phủ Thiên Trường, nay là huỵện Mỹ Lộc tỉnh Nam Định.

Đọc lại tác phẩm “Khóa hư lục” gợi nhớ Trần Thái Tông - Ảnh 1

Sau khi Trần Cảnh lên ngôi thay vợ là Lý Chiêu Hoàng thì quê hương Nam Định của nhà Trần bắt đầu được gọi là Thành Nam và là nơi lui về của triều đình khi giặc Nguyên Mông xâm chiếm Thăng Long. Trần Cảnh sinh năm Mậu Dần 1218. Năm nay chính là năm kỷ niệm 790 năm ngày sinh của ông. Theo Đại Việt sử kỷ tiền biên, Trần Cảnh mũi cao, mặt rồng, phong thái thông minh tuấn tú. Khi lên ngôi tôn cha làm Thượng hoàng, mẹ là Quốc Thánh Hoàng Thái hậu, anh trai Trần Liễu làm Thái uý, phong chú Trần Thủ Độ làm Thống Quốc Thái sư, dựa hẳn vào chú để điều hành việc nước.

Nhưng có một bi kịch xảy ra: Do Chiêu Hoàng (sau khi nhường ngôi thì đổi là Chiêu Thánh) không có con nên Trần Thủ Độ đã ép Trần Thái Tông lập Thuận Thiên công chúa (vợ của Trần Liễu) làm hoàng hậu. Lúc đó, Thuận Thiên đã có mang ba tháng (sau sinh ra Quốc Khang). Trần Liễu phẫn nộ, họp quân ngoài sông lớn toan làm loạn. Trần Thái Tông thấy thế, rất đau khổ trước sự o ép này. Vào đêm mồng ba tháng tư năm Bính Thân 1236, vua rời khỏi cung đến ở nhà Kinh Vân Quốc sư (bạn cũ của vua).

Trong Bài tựa sách Thiền Tông Chỉ Nam thuộc “Khoá hư lục” (quyền thượng), Trần Thái Tông đã viết rõ về chuyến đi này: “Trẫm mặc áo thường đi ra cửa cung, bảo tả hữu rằng: “Trẫm muốn ra ngoài thành du ngoạn, lắng nghe tiếng nói của dân, xem chí nguyện của dân, ngõ hầu biết được sự gian nan của họ”. Lúc đó, tả hữu đi theo trẫm chẳng quá bảy, tám người. Vào giờ Hợi đêm ấy, Trẫm một mình một ngựa cất bước ra đi. Sang sông đi về phía đông, Trẫm mới thật tình bảo cho những người theo hầu biết. Họ rất ngạc nhiên, đều ứa hai hàng lệ. Giờ Mão ngày hôm sau, đi đến bến đò Đại Than, núi Phả Lại.

Trẫm sợ có người biết, phải lấy áo che mặt qua sông, rồi theo đường núi mà đi. Tới tối, vào nghỉ ờ chùa Giác Hạnh, đợi đến sáng lại đi. Núi hiểm suối sâu, trèo lội chật vật, ngựa mệt mỏi không thể tiến bước, Trẫm phải bỏ ngựa, vịn vào vách đá mà đi, mãi tới giờ Mùi mới đến sườn núi Yên Tử. Sáng hôm sau, Trẫm leo thẳng lên đỉnh núi, tham kiến Trúc Lâm Đại Sa môn Quốc sư”. Trong câu chuyện, Quốc sư nghe Trần Thái Tông bày tỏ nguyện vọng cầu Phật bèn trả lời rằng: “Trong núi vốn không có Phật, Phật chỉ có trong tâm. Tâm vắng lặng mà biết, đó gọi là chân Phật. Nay bệ hạ nếu ngộ được tâm ấy, thời tức khắc thành Phật, chẳng phải nhọc công tìm đâu xa”.

Cũng chính lúc ấy, Trần Thủ Độ cho người tìm đến mời vua về lại kinh thành. Trần Thái Tông đã nói: “Trẫm còn ít tuổi, chưa kham nổi công việc nặng nề, vua cha (Trần Thừa – Trần Thái Tổ) đã vội lìa bỏ, sớm mất chỗ nhờ cậy, không dám ở ngôi vua để làm nhục xã tắc”. Sau, chính Quốc sư khuyên nhủ, Trần Thái Tông mới bất đắc dĩ rời núi về kinh thành. Hai tuần sau, Trần Liễu thấy thế cô liền ngầm  đi thuyền độc mộc, giả làm người đánh cá, đến chỗ vua xin hàng. Trong thuyền lớn của vua, hai anh em nhìn nhau mà khóc. Trần Thủ Độ phát hiên ra, đến đòi giết. Không muốn xảy ra cảnh “huynh đệ tương tàn”, Trần Thái Tông đã lấy thân che cho Trần Liễu và giải hoà với Trần Thủ Độ.

Sau đó, Trần Thái Tông đã lấy đất Yên Phụ, Yên Dưỡng, Yên Sinh, Yên Hưng, Yên Bang làm đất thang mộc cho Trần Liễu và phong là An Sinh Vương. Từ đó, hai anh em hoà thuận. Trần Liễu chấp nhận để cho vợ mình trở thành vợ vua. Thuận Thiên hoàng hậu sau khi sinh Quốc Khang (con của Trần Liễu) đã sinh cho Trần Thái Tông khá nhiều con. Sự hoà thuận đã khiến cho sau này Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn (con Trần Liễu) đã bỏ qua mọi bất hoà trong quá khứ, dốc lòng phụng sự cơ nghiệp nhà Trần.

Đọc lại tác phẩm “Khóa hư lục” gợi nhớ Trần Thái Tông - Ảnh 2

Trần Thái Tông trở về kinh thành đã làm vua hơn 20 năm, cùng Trần Thủ Độ, Lê Phụ Trần đánh tan cuộc xâm lược lần thứ nhất của quân Nguyên Mông tại Đông Bộ Đầu. Năm 40 tuổi (1258), Trần Thái Tông đã nhường ngôi cho con trưởng Trần Hoảng (Trần Thánh Tông) và vào núi tu luyện. “Khoá hư lục” đã được Trần Thái Tông hoàn chỉnh trong thời gian này. Nhà Trần sùng Phật, trọng tăng cũng bắt đầu từ đó. Trong “Khoá hư lục” có rất nhiều bài thơ hay của Trần Thái Tông. Nhưng có lẽ bài thơ sâu sắc nhất về chân Phật của đức vua là bài thơ đáp lại những câu hỏi của vi tăng Đức – Thành đời Tống.

Ngàn sông có nước ngàn trăng chiếu

Muôn dặm không mây muôn dặm trời

Mây sinh đỉnh núi đều màu trắng

Nước đến Tiêu, Tương một vẻ trong

Ngoại trừ con thật của nhà ta

Ai dám hướng vào trong nơi đó

Mưa xuân không cao thấp

Cành hoa có ngắn dài

Kiếm vì bất bình mở hộp báu

Thuốc nhân trị bệnh rót khỏi bình

Nước chảy xuôi non đâu có ý

Mây tuôn qua núi vốn vô tâm

Chớ bảo vô tâm nói là đạo

Vô tâm còn cách một trùng quan

Đọc lại “Khoá hư lục”, nhớ Trần Thái Tông, mới thấy ông là một nhân vật lịch sử vĩ đại đúc kết ra “đạo Việt”. Sau này cháu ông – Trần Nhân Tông (năm nay cũng kỷ niệm 750 năm ngày sinh và 700 năm ngày mất) đã là người thực hiên xuất sắc đạo ấy khi lập ra Thiền phái Trúc Lâm. Nhưng chẳng biết vì sao ở Hà Nội chưa có một con đường nào mang tên ông, dù những con đường mang tên con cháu ông thì khá nhiều, như Trần Thánh Tông, Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật, Trần Nhân Tông, Trần Hưng Đạo. Liệu nên có ngay một con đường mang tên Trần Thái Tông? 

Nguồn tổng hợp

Thẻ: , , ,

Tin hay cùng chuyên mục