Dương Tự Minh: Hai lần làm phò mã thời nhà Lý

Dương Tự Mình: Hai lần làm phò mã thời nhà Lý

Dưới chế độ phong kiến, công chúa con vua là bậc cao sang quyền quý, do đó, những người trong diện được lựa chọn để sánh duyên thường phải là con cháu công thần, khỏe mạnh, không khiếm khuyết về thể chất, tài đức đều đủ…

Trở thành phò mã là một vinh dự đặc biệt mà không phải người đàn ông nào cũng có diễm phúc có được.  Chính vì vậỵ, việc một người dân tộc thiểu số trở thành phò mã của triều đình đã rất ít, nhưng được hai đời vua gả công chúa cho, hai lần trở thành phò mã thì trong lịch sử ghi nhận Dương Tự Minh là trường hợp độc nhất vô nhị.

Dương Tự Minh người dân tộc Tày, quê ở vung Quán Triều, xã Đông Đạt, phủ Phú Lương (phủ Phú Lương thời Lý có địa bàn rất rộng, gồm nhiều châu, xứ có diện tích tương ứng với các tỉnh Thái Nguyên, Bắc Cạn, Cao Bằng, Hà Giang, Tuyên Quang và một phần Lạng Sơn, Phú Thọ ngày nay), xuất thân trong một gia đình làm ruộng và chài lưới ven sông. Do có sức khỏe, trí thông minh và phẩm cách hơn người nên ông được các thổ quan, tù trưởng vùng sơn cước suy tôn làm thủ lĩnh phủ Phú Lương.

Dương Tự Mình: Hai lần làm phò mã thời nhà Lý - Ảnh 1

Tỏ ra là người giỏi cai trị, biết thu phục nhân tâm, vì thế Dương Tự Minh đã góp công lớn trong sự nghiệp an dân, phát triển văn hóa, kinh tế, giữ vững ổn định và bảo vệ vững chắc cả một vùng biên cương rộng lớn của đất nước; được nhân dân nhiều nơi yêu mến kính phục, được triều đình nhà Lý tin cậy, tín nhiệm. Do đặc biệt quan tâm đến khu vực miền núi phía Bắc, coi đó là trọng yếu gắn liền với việc bảo vệ biên cương và sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia nên triều

Lý cho thi hành chính sách dân tộc bằng cách ra sức tranh thủ các tù trưởng, thủ lĩnh để thắt chặt khối đại đoàn kết dân tộc, đồng thời mở rộng ảnh hưởng quyền lực của triều đình trung ương tới vùng miền núi, biên viễn. Một trong những kế sách được nhà Lý sử dụng có hiệu quả là thông qua các cuộc hôn nhân đối với các tù trưởng người thiểu số có thế lực. Theo ghi chép của sách sử thì chính sách nay được biểu hiện chủ yếu bằng việc gả công chúa hoặc con gái tôn thất cho các tù trưởng. Trong suốt thời gian tồn tại của nhà Lý, nhiều cuộc hôn nhân như vậy đã diễn ra, trong đó có 10 nàng công chúa về làm dâu vùng biên cương: Đông Thiên, Diên Bình, Bình Dương, Kim Thành, Trường Ninh, Ngọc Kiều, Khâm Thánh, Thiên Thảnh, Thiều Dung và Thụy Thiên.

Với uy tín lớn của mình, Dương Tự Minh được triều Lý hậu đãi, tin tưởng; tháng 12 năm Đinh Mùi (1127) vua Lý Nhân Tông đã gả con gái yêu của mình là công chúa Diên Bình cho Dương Tự Minh. Tháng 10 năm Nhâm Tuất (1142), sau khi dẹp xong loạn Thân Lợi, vua Lý Anh Tông đã sai Dương Tự Minh đến châu Quảng Nguyên (nay thuộc đất Cao Bằng, Lạng Sơn) để chiêu tập và phủ dụ dân chúng ở đó, giúp họ khai khẩn ruộng hoang, phục hồi sản xuất, sớm ổn định cuộc sống. Đến tháng 8 năm Quý Hợi (1143), vua “xuống chiếu cho Dương Tự Minh cai quản việc công các khe động dọc theo biên giới về đường bộ’’ (Đại Việt sử ký toàn thư). Năm Giáp Tý (1144), Dương Tự Minh được hưởng ân sủng đặc biệt mà trong lịch sử Việt Nam duy nhất chỉ mình ông có vinh dự này, đó là việc vua Lý Anh Tông gả công chúa Thiều Dung (có sách chép là Hồng Liên) cho Dương Tự Minh và phong ông làm Phò mã lang. Vậy là Dương Tự Minh hai lần được làm phò mã, trở thành con rể của hai vua Lý Nhân Tông (1072-1127) và Lý Anh Tông (1138-1175).

Tháng 8 năm Ất Sửu (1145), ở phía Nam nước Tống có tên Đàm Hữu Lượng dẫy binh làm loạn, khi bị triều đình truy bắt đã trốn sang châu Tư Lang nước ta tiếp tục quẫy nhiễu các địa phương dọc biên giới rồi đánh chiếm châu Quảng Nguyên. Bấy giờ, Kinh lược súy ty lộ Quảng Tây nước Tống đưa thư nhờ bắt Đàm Hữu Lượng, lại thấy tình hình biên giới bất ổn, vua Lý Anh Tông xuống chiếu sai Phò má lang Dương Tự Minh và văn thần là Nguyễn Nhữ Mai, Lý Nghĩa Vinh đem quân đi đánh, đồng thời phối hợp cùng quân các khe động do Thái sư Mâu Du Đô chỉ huy tiến công thu hồi các vùng đất bị chiếm. Tại châu Thông Nông (nay thuộc huyện Thạch Lâm, Cao Bằng), Dương Tự Minh đã đại phá quân phản loạn, chiếm được ải Lũng Đô, bắt sống bè đảng thân cận của Đàm Hữu Lượng là bọn Bá Đại gồm 21 tên, chỉ có Đàm Hữu Lượng chạy thoát trốn về nước Tống, sau bị quân Tống bắt được đem giết.

Với công trạng lớn, Dương Tự Minh được triều đình khen thưởng và triệu về làm việc tại kinh đô Thăng Long. Khi ấy, ở triều đình, vua còn trẻ nên mọi việc chính sự đều dựa vào Thái úy phụ chính Đỗ Anh Vũ. Ông ta cậy thế chuyên quyền, lại tư thông với Lê thái hậu nên ‘càng lên mặt, ở triều đinh thì giơ tay to tiếng, sai bảo quan lại thì bằng mép bằng hơi, ai cũng gườm mà không dám nói” (Đại Việt sử ký toàn thư). Trước tình hình đó, Dương Tự Minh cùng một số đại thần bàn mưu diệt trừ Đỗ Anh Vũ. Sau khi bàn tính xong, họ đem quân vào cung bắt Đỗ Anh Vũ đem giam lại chờ xét xử. Lê Thái hậu một mặt tác động đến vua, mặt khác ngầm đưa vàng bạc vào cho Đỗ Anh Vũ để ông ta đút lót cho Điện tiền chỉ huy sứ Vũ Đái, nhờ thế mà Đỗ Anh Vũ chỉ bị đi đày làm lính phục vụ ở xã Nhật Tảo, ngoại thành Thăng Long.

Dương Tự Mình: Hai lần làm phò mã thời nhà Lý - Ảnh 2

Để cứu tình nhân và phục hồi chức tước cho ông ta, Lê Thái hậu đã mở nhiều lễ hội rồi cho xá tội nhân, cuối cùng Đỗ Anh Vũ lại được làm Thát úy phụ chính. Sau khi trở lại nắm quyền, Đỗ Anh Vũ cho lập một lực lượng riêng gọi là Phụng quốc vệ, tiếp đến là vu cáo các đại thần đã tham gia lật đổ mình trước đây là có âm mưu làm phản để trả thù. Sách Đại Việt sử ký toàn thư viết: “Vua chẳng biết gì cả cũng y lời tâu. Anh Vũ sai đô Phụng quốc vệ bắt bọn Đái giam vào ngục trị tội. Xuống chiếu giáng Trí Minh Vương làm tước hầu, Bao Nghĩa hầu làm tước Minh tự, Bảo Thắng hầu làm Phụng chức; bọn Nội thị là Đỗ Ất 5 người phải tội “cưỡi ngựa gỗ”, bọn Hỏa đầu đô Ngọc Giai là Đồng Lợi 8 người chém ở chợ Tây Nhai, bọn Điện tiền đô chỉ huy sứ Vũ Đái 20 người chém bêu đầu ở các bến sông, bọn Phò mã lang Dương Tự Minh 30 người lưu đày ở những nơi xa độc”.

Sử sách không chép Dương Tự Minh bị đày đi đâu, mất năm nào nhưng theo truyền thuyết dân gian ở quê hương thì khi tuổi giả, Dương Tự Minh được trở về, ông lội xuống dòng sông Phú Lương tắm gội sạch sẽ, trút bỏ bụi trần rồi mặc quần áo chàm xanh, cưỡi ngựa trắng bay về trời. Sau khi Dương Tự Minh mất, triều Lý sắc phong ông làm Uy viễn đôn tính Cao Sơn quảng độ chi thần và cho lập đền thờ tại quê ông. Ngôi đền này ở núi Đuổm nên được gọi là đền Đuổm, nhân dân thì tôn gọi Dương Tự Minh là Đức Thánh Đuổm. Tương truyền đền được dựng năm Canh Tý (1180) đời Lý Cao Tông; quanh vùng còn lưu giữ nhiều truyền thuyết về Dương Tự Minh như: Chiếc áo tàng hình, Sự tích giếng Dội, Sự tích chuông lăn, Bàn cờ tiên, Thánh Đuổm trị tà thần…

Ngoài nơi thờ chính là đền Đuổm (huyện Phú Lương, Thái Nguyên), nhân dân nhiều địa phương thuộc các tỉnh Thái Nguyên, Bắc Giang, Bắc Cạn đều lập đền thờ Dương Tự Minh. Có câu phương ngôn rằng:

Thượng Đu, Đuổm Hạ Lục Đầu

200 xã lưỡng biên giang thở.

Nghĩa là: Từ thượng du các vùng Đu, Đuổm cho đến sông Lục Đầu có 200 xã bên sông thờ phụng.Hàng năm cứ vào đầu tháng giêng âm lịch, nhân dân đều mở lễ hội tưởng nhớ Dương Tự Minh, một trường hợp đặc biệt trong lịch sử là người được hai lần làm phò mã, lớn nhất là hội đền Đuổm được tổ chức trang nghiêm với nghi thức dâng hương, nghênh rước, đọc văn tế tôn vinh. Còn phần hội là các cuộc thi làm cỗ chay với 6 loại bánh (bánh bìa, bánh vôi, chè lam, bánh khảo, bánh răn và bỏng ngô), kéo co, dấu vật, đua cà kheo cùng với nhiều hoạt động văn hóa khác như: tung còn, chọi gà, hát ví, hát si lượn, múa tắc xinh, múa kỳ lân… Tất cả diễn ra trong không khí vui tươi, phấn khởi, đoàn kết như là sự ghi nhớ, tiếp nối những giá trị đặc sắc của văn hóa và lịch sử hào hùng của dân tộc.

Nguồn tổng hợp

 

Thẻ: , , ,

Tin hay cùng chuyên mục