Gia đình khoa bảng số một Việt Nam thời vua Lê Thánh Tông

Gia đình khoa bảng số một Việt Nam thời vua Lê Thánh Tông

Người anh cả như cha như mẹ Nguyễn Sĩ Duyên (1445-?) là anh cả trong gia đình gồm 6 anh em trai nhưng lại là người duy nhất không đi thi một khoa nào.

Nguyễn Sĩ Duyên là người học giỏi, thông thái, sức học theo đánh giá của các nhà nho là thừa sức giật khôi nguyên nhưng ông lại chấp nhận gánh vác việc nhà để nuôi các em ăn học thành tài. Ông biến ngôi nhà ở làng Kim Khê thành một lớp học tại gia nổi tiếng vì sau này cả 5 người em của ông đều đỗ tiến sĩ và là gia đình khoa bảng số một Việt Nam dưới thời vua Lê Thánh Tông.

Vua Lê Thánh Tông (1460-1497) biết tiếng ông đã cho mời vào kinh, ý muốn đặc cách trao cho Sĩ Duyên một chức vụ để trọng thưởng người có công lớn với đất nước nhưng ông đã tìm cách từ chối, lấy cớ sức khỏe kém và công việc bận. Nhà vua đã ban cho ông tên hiệu là Kim Khê xử sĩ (Kim Khê là tên làng, xử- cư = ở, sĩ- người; ý nghĩa của tên hiệu là Bậc nhân sĩ sống ở Kim Khê). Đó là một sự đánh giá chính xác tài năng, Trong 7 đời, một gia đình có đến 14 người đỗ tiến sĩ (chưa kể những người đỗ cử nhân, tú tài); trong đó, 3 đời liên tiếp đã có 11 tiến sĩ; riêng khoa thi năm Bính Thìn (1496) có 4 người là anh em con chú con bác ruột đỗ tiến sĩ. Đó là gia đình họ Nguyễn ở làng Kim Đôi, hạt Vũ Giang, phủ Từ Sơn (nay thuộc thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh). Đức độ và công lao của ông đối với gia đình, quê hương và đất nước vì nếu không có ông, các em khó có thể đủ điều kiện chuyên tâm học tập để đỗ đạt, thành tài.

5 anh em đỗ tiến sĩ

Nguyễn Nhân Bị (1448-?), em kế Sĩ Duyên, đỗ đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân khoa thi năm Bính Tuất (1466), khi mới 19 tuổi. Lẽ ra là người đồng khai khoa của gia đình nhưng ông đã xin không nhận đỗ vì tự xét thấy sức học của mình phải đỗ cao hơn. Đến khoa Tân Sửu (1481), Nguyễn Nhân Bị lại đi thi và đứng hạng 7/20 người trong hàng đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân năm 1495, ông được bổ làm Hàn lâm viện Hiệu lý (chánh thất phẩm, tức hạng 7/9 bậc quan chức), sau được vua Lê Thánh Tông vời vào hội thơ Tao Đàn, hiện còn 12 bài thơ in trong Toàn Việt thi lục. Ông từng đi sứ Trung Hoa; sau làm quan đến Thượng thư Bộ Binh (tòng nhị phẩm, hạng 2/9 bậc quan chức).

Gia đình khoa bảng số một Việt Nam thời vua Lê Thánh Tông - Ảnh 1

Nguyễn Nhân Phùng (1450-?, còn có các tên là Nguyễn Trọng Xác, Nguyễn Xung Xác, Nguyễn Nhân Bẩy, Nguyễn Trọng Ý), em kế Nhân Bị, đỗ đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân khoa thi năm Kỷ Sửu (1469) khi mới 16 tuổi, đứng thứ 1 /20 hàng đệ tam giáp; sau được bổ làm Hàn lâm viện thị độc (chánh ngũ phẩm, hạng 5/9 bậc quan chức), Chưởng viện sự, Tả thị lang Bộ Lễ (tòng tam phẩm, hạng 3/9 bậc quan chức), ông cũng là thành viên trong Tao Đàn nhị thập bát tú, được vua Lê Thánh Tông ban quốc tính, gọi là Lê Trọng Ý. Ông là một tác giả thơ nổi tiếng, có một số bài in trong Hồng Đức quốc âm thi tập. Nhà bác học Lê Quý Đôn (1726- 1784) đánh giá cao tác giả văn học này.

Nguyễn Nhân Thiếp (1452-?, có sách dịch là Tiếp, Hiệp), em kế Nhân Phùng, đỗ đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân khoa thi năm Bính Tuất (1466) ở tuổi 15, đứng thứ 9/19 người đỗ đệ tam giáp. Sau đó, ông được bổ làm tri huyện, ổng còn dự thi và đỗ khoa Hoành từ, sau được thăng Bí thư Giám học sách, đến năm 1498 làm Đông các học sĩ (tòng ngũ phẩm, hạng 5/9 bậc quan chức)) kiêm Quốc tử giám Tế tửu (tong tứ phẩm, hạng 4/9 bậc quan chức), sau lại thăng Thượng thư Bộ Hộ (tòng nhị phẩm) khi mới 48 tuổi.

Nguyễn Nhân Dư (1454-?), em kế Nhận Thiếp, đỗ đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân khoa Nhâm Thìn (1472), đứng thứ 9/17 hàng đệ tam giáp), ông từng làm quan đến Hiến sát sư (chánh lục phẩm, hạng 6/9 bậc quan chức).

Nguyễn Nhân Đạc (1457-?, có sách viết là Dịch), em út, đỗ đệ tam giáp, đồng tiến sĩ xuất thân, khoa thi năm Ât Mùi (1475) khi mới 18 tuổi, đứng thứ 12/27 người hàng đệ tam giáp, ông làm quan đến chức Hàn lâm viện hiệu thảo (tòng thất phẩm, hạng 7/9 bậc quan chức).

Cháu con làm rạng rỡ gia đình, dòng họ

Lớp con cháu của Nguyễn Nhân Bị không chỉ tiếp nối truyền thống gia đình mà còn đạt được thành công vượt trội. Nguyễn Dũng Nghĩa (1469-?), con trai cả Nguyễn Nhân Bị, đỗ hoàng giáp trongkỳ thi năm Quỷ Sửu (1493); làm quan đến Giám sát ngự sử (chánh thất phẩm, hạng 7/9 bậc quan chức). Nhưng đặc biệt nhẩt là cùng khoa thi năm Bính Thìn (1496), có 4 anh em (con chú con bác) cùng thi đỗ:

Nguyễn Củng Thuận (1472-?), con trai thứ của Nguyễn Nhân Bị, đỗ đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân; sau làm quan đến Tả thị lang Bộ Hộ (tòng tam phẩm, hạng 3/9 bậc quan chức).

Nguyễn Đạo Diễn (1468-?), con trai của Nguyễn Xung Xác, đỗ thứ 1 /19 người hạng đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân; sau làm quan đến Hiến sát sứ (chánh lục phẩm, hạng 6/9 bậc quan chức).

Nguyễn Huân (1473-?), con trai thứ của Nguyễn Nhân Thiếp, đỗ thủ khoa trong 2 kỳ thi Hương (Giải nguyên) và thi Hội (Hội nguyên), vào thi Đình đô đệ nhất giáp tiến sĩ, xếp hàng bảng nhãn; sau được bổ làm quan, thăng đến chức Thượng thư Bộ Lễ (tòng nhi phẩm).

Nguyễn Kính (1479-?), em ruột của Nguyễn Huân, đỗ đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân; hai lần đi sứ Trung Hoa, làm quan đến Thượng thư.

Đến khoa thi năm Canh Tuất (1490), Nguyễn Hoàng Khoản (1471-?, có sách viết Hoành Khoản), con trai của Nguyễn Nhân Dịch, anh của Nguyễn Huân, đỗ đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân, đứng thứ 4/ 32 người. Tiếp đó, đến đời thứ ba và 4 đời tiếp theo, các cháu chắt của Nguyễn Nhân Bị lại tiếp tục làm vẻ vang gia đình.

Năm Bính Thìn (1556), Nguyễn Lượng (?-?, có sách viết là Nguyễn Lạng hoặc Nguyên Đức Lượng), con trai của Nguyễn Kính, cháu nội của Nhân Thiếp, đồ đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân; làm quan đến Thượng thư.

Năm Nhâm Tuất (1562), Nguyễn Năng Nhượng (1535-?, có sách viết là Củng Nhượng), cháu nội gọi Nguyễn Củng Thuận là ông, đỗ đệ nhị giáp tiến sĩ; từng đi sứ Trung Hoa; làm quan đến Thượng thư, Đạo phái hầu.

Đến năm Canh Thìn (1700), cháu 7 đời của Nguyễn Củng Thuận là Nguyễn Quốc Quang (1676-?, sau đổi tên là Quốc Anh), đỗ đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân; làm quan đến chức Tự Khanh, Tham chính (tòng tứ phẩm, hạng 4/9 bậc quan chức).

Như vậy, nếu tính trong 7 đời, kể từ cụ Nguyễn Sĩ Duyên đến Nguyễn Quốc Quang thì gia đình này đã có đến 14 người đỗ tiến sĩ (riêng Nguyễn Nhân Bị 2 lần đỗ). Trong đó, chỉ riêng khoa thi năm Bính Thìn (1496) đã có 4 người là anh em con chú con bác ruột đỗ tiến sĩ; khiến cho tiến sĩ Nguyễn Xung Xác phấn khởi tức cảnh: Chư phụ tị niên đồng triết quế/Quần nhi kim nhật hội khán hoa (Các bậc cha chú liền năm cùng bẻ quế/ Cháu con ngày nay cùng vui xem hoa). Còn sử sách đã ghi chép sự kiện này rất trân trọng: “Trong khoa thi năm Bính Thìn, 4 anh em họ đã cùng đỗ và có người đã được xếp hạng đệ nhất giáp”.

Còn một chi tiết thú vị nữa là: chỉ riêng dưới triều Lê Thánh Tông đã có 11 tiến sĩ trong gia đình khoa bảng số một Việt Nam này làm quan và đều là những bậc công thần danh tiếng. Chính vị vua tài giỏi này đã phải thốt lên thán phục: “Kim Đôi gia, chu tử mãn triều” (Đầy triều áo tía, áo đỏ của những người trong gia đình họ Nguyễn ở Kim Đôi). Đây là minh chứng thuyết phục cho việc phát hiện, quy tụ và trọng dụng nhân tài để phục vụ công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước.

Nguồn tổng hợp

Thẻ: , , ,

Tin hay cùng chuyên mục