Ông Lý Quang Diệu viết hồi ký “The Singapore story”

Ông Lý Quang Diệu viết hồi ký “The Singapore story”

Lý Quang Diệu (tên chữ Latin: Lee Kuan Yew; tên chữ Hán: 李光耀; bính âm: Lǐ Guāngyào, 16 tháng 9 năm 1923 – 23 tháng 3 năm 2015), là Thủ tướng đầu tiên của nước Cộng hòa Singapore, ông đảm nhiệm chức vụ này từ năm 1959 đến năm 1990.

Ông Lý Quang Diệu (Lee Kuan Yew), cựu Thủ tướng Singapore và đồng thời cũng là một trong những lãnh tụ nổi tiếng thế giới, vừa xuất bản cuốn hồi ký (memoir) mang tựa đề “The Singapore story”. Tờ Times (21/9/98) đã dành 8 trang giới thiệu trên mục “Special Book Excerpt” (Trích đoạn sách đặc biệt) tập 1 cuốn hồi ký của ông về thòi thơ ấu (boyhood), giai đoạn Nhật chiếm Singapore, chuyện tình lãng mạn (romantic love story) dẫn đến cuộc hôn nhân bí mật (secret marriage) tại Đại học Cambridge (Anh) và những biến cố đã hình thành sự nghiệp (careẹr-shaping events) của ông.

Trích đoạn hồi ký trên Time được cố thủ tướng Lý Quang Diệu  mở đầu bằng chuyện bị bố nhéo tai khi mới 4 tuổi. “My earliest and most vivid recollection is of being held by my ears…”, theo ông, đây là một hồi ức sống động nhất: chỉ vì nghịch lọ dầu chải đầu màu xanh thơm phức (pạle-green scented brilliantine), cậu Lỳ đã bị bố nhéo tai dọa… thả xuống giếng, về thời học sinh, ông LQD nhìn nhận mình thuộc loại tinh nghịch (mischievous): “There was a mischievous, playful streak in me”. Nội quy của nhà trường quy định đi học trễ 3 lần trong một học kỳ (term) sẽ bị quất 3 roi (get 3 strokes of the cane), cậu Lý dù là một học sinh thuộc loại khá nhưng cũng không được miễn đòn phạt vào năm 1938, khi đó đã 15 tuổi. Lý do chỉ vì tật dậy muộn. “I was always a late riser, an owl more than a lark”.

Ông Lý Quang Diệu viết hồi ký “The Singapore story” - Ảnh 1

Trong tiếng Anh, “owl” và “lark” là hai loại chim tượng trưng cho ngày và đêm. “Owl” là loài cú thuộc loại chim ăn đêm (nocturnal bird) cho nên người Anh thường nói “to fly with the owl” để ám chỉ việc hay đi chơi đêm. Ngược lại, to rise with the lark” hoặc “up with the lark” hàm ý dậy sớm vì chim chiền chiện (lark) thường hót vào buổi sáng sớm. Tháng 12/1941 Nhật bắt đầu tha bom lên Singapore, tháng 2/1942 quân đội Anh rút lui (withdraw) và quân đội Nhật nắm quyển kiểm soát (take over, occupy) hòn đảo này. LQD kể lại những ấn tượng đầu tiên (first impressions) của ông đối với những kẻ chinh phục (conquerors): “They were outlandish figures (hình thù kỳ dị), small, squat (béo lùn) men carrying long ritles (súng trường) with long bayonets (lưỡi lê).

They exuded (toát ra) an awful stink (một mùi hôi khủng khiếp), a smell I wili never torget”. Điều mà LQD cũng sẽ không bao giờ quên là có lần ông đã bị lính Nhật dùng lưỡi lê hất nón xuống đất, thẳng tay tát vao mặt (slap roundly), bắt quỳ gối (kneel) và còn bị giáng thêm một đạp vào ngực. Tất cả chỉ vì không chấp hành lệnh phải cúi đầu chàọ (bow) mỗi khi đi ngang qua những người lính Nhật. LQD cũng đã có mặt trong số hàng chục ngàn gia đình người Hoa bị tập trung tại sân vận động Jelan Bẹsar theo lệnh của hiến binh (military police) Nhật. Nhờ một lý do không thể nào giải thích được (inexplicable reason), ông đã được “kempeitai” (hiến binh Nhật) đóng dấu (chop) “kanji” (đã kiểm tra) lên vai trái và ngực áo bằng một loại mực không thể xóa được (indelible ink).

Những người không được đóng dấu kiểm tra bị tập trung tại một bãi biển, trói dính vào nhau và dược lệnh tiến thẳng ra biển trong khi các xạ thủ súng máy (machine-gunners) xả đạn vào lưng họ. Sau cuộc tàn sát (massacre) để bảo đảm mọi người đều chết, mỗi tử thi (corpse) được kiểm tra lại bằng cách bị đá (kicked) hoặc đâm bằng lưỡi lê (bayoneted). Xác chết đã không được chôn (burry) và tự phân hủy (decompose) qua các đợt sóng biển. Tuy nhiên, bên cạnh sự tàn bạo (bratality), khủng bố (terror) và hành hạ (torture) của người Nhật, LQD cho rằng trong suốt 3 năm rưỡi dưới ách thống trị người Nhật ông đã học hỏi được rất nhiều điều từ họ: “They gave me vivid insights into the behavior of human beings (tính cách của con người) and human societies (xã hội loài người).

 Nguyên tắc “quyền lực xuất phát từ họng súng" (power grows out of the barrel of a gun) của người Nhật đã khiến mức độ phạm pháp tại Singapore được hạn chế tối đa vì những hình phạt nghiêm khắc (severe punishment). Singapore dưới thời LQD thường bị một số ý kiến chống đối cho rằng đảo quốc này đã trở thành một “đất nước quân phiệt” (military State). Phải chăng đó là những gì mà vị thủ tướng tài ba này đã học hỏi được tử thời quân phiệt Nhật Bản? Vào giữa năm 1944, tình hình lạm phát (inflation) tại Singapore trong thời Nhật chiếm đóng đã lên đến cao điểm (peak). Theo LQD, để có thể sinh tồn (survive) trong một xã hội như vậy, người ta cần đến sự “ứng biến” (improvisation).

Ông Lý Quang Diệu viết hồi ký “The Singapore story” - Ảnh 2

Ông tiết lộ chính bản thân mình cũng đã từng bươn chải ngoài chợ trời, mua đi bán lại nữ trang (jewelry), vàng bạc để kiếm sống, ông cũng đã từng bước vào kinh doanh với nghề sản xuất keo dán (gum) qua hợp tác với một ngươi bạn tên Yong Nyuk Lin. Việc kinh doanh này cũng đồng thời là một bước ngoặt trong cuộc đời của LQD. “The business changed the course of my life”: Ông đã làm quen với Kwa Geok Choo, em vợ của Yong Nyuk Lin và sau này khi cùng học tại Cambridge hai người đã bí mật kết hôn.

Trước khi lên đường du học tại Anh, LQD đã chính thức tỏ tình với Choo: “I asked her whether she would wait for me until I came back three years later…”. Choo thành thật hỏi Lý rằng chàng có biết nàng hơn chàng hai tuổi rưỡi? “I said I knew and had considered this carefully”. Lý học luật tại Cambridge, một năm sau Choo cũng xin được học bổng và Lý lo thủ tục để hai người được học cùng trường. “We were already matụre (trưởng thành), in our mid-20s, and we had made up our minds”. Họ quyết định bí mật kết hôn tại Stratford-on-Avon, quê hương của Shakespeare. Chàng tặng nàng chiếc nhẫn cưới bằng platin (platinum wedding ring) nhưng khi trở về Cambridge để tránh vi phạm nội quy của trường, “she wore the ring on a chain around her neck”. Về những ngày du học trên đất Anh, LQD đã ghi lại trong hồi ký: “I had now seen the British in their own country, and I questioned their ability to govern these territories for the good of the locals”. Và đó chính là những tư tưởng khởi đầu cho sự nghiệp của một người được coi là “cha đẻ của đất nước Singapore hiện đại” (The Father of modern Singapore). 

Lý Quang Diệu đã viết hai cuốn hồi ký dài hai tập: Câu chuyện Singapore, trình bày quan điểm của ông về lịch sử Singapore cho đến khi tách rời khỏi Malaysia năm 1965, và Từ thế giới thứ ba đến thế giới thứ nhất: Câu chuyện Singapore, thuật lại sự chuyển đổi của Singapore để trở thành; quốc gia thuộc thế giới thứ nhất.

Nguồn tổng hợp

Thẻ: , ,

Tin hay cùng chuyên mục