Thêm một số tài liệu xung quanh việc đào kho báu của vua Hàm Nghi

Thêm một số tài liệu xung quanh việc đào kho báu của vua Hàm Nghi

Kho báu vua Hàm Nghi không chỉ tồn tại như một huyền thoại. Ít ra, những dấu tích, cứ liệu còn sót lại cũng chứng minh hùng hồn.

Sự tồn tại của không chỉ một mà có thể là một số tài liệu xung quanh việc đào kho báu của vua Hàm Nghi là điều có thật. Nó đủ hấp dẫn để đốt lên khát vọng tìm kiếm ở không ít người.

 Về kho báu của vua Hàm Nghi ở Quảng Bình

Qua việc nghiên cứu các thư tịch kết hợp với các đợt đi điền dã khảo sát khắp các huyện ở Quảng Bình, đặc biệt là huyện Minh Hóa và huyện Lệ Thủy, chúng tôi thấy rằng số vàng của vua Hàm Nghi đã để lại ở hai huyện là Lệ Thủy và Minh Hóa. Sau nhiều đợt khảo sát dọc hai bờ sông Kiên Giang, chúng tôi được nghe các cụ già ở đây kể như sau: Theo kế hoạch, Tôn Thất Thuyết sẽ đưa vua Hàm Nghi đi theo đường thượng đạo từ Tân sở ra Quảng Bình. Đoàn vừa mới đến địa đầu Quảng Bình, tức là đến bến đò Trạm (huyện Lệ Thủy) thì được tin quân Pháp đã đánh vào Động Hải (tức Đồng Hới).

Được tin cấp báo ấy, Tôn Thất Thuyết quyết định trở lại Cam Lộ rồi qua Lào đi ra Hà Tĩnh. Khi đến bến đò Trạm ở Lệ Thủy, do có nhiều người bị đau yếu, voi, ngựa cũng mệt mỏi nên Tôn Thất Thuyết đã quyết định gửi lại một số đài vàng ở Lệ Thủy. Công việc này được giao cho nguyên Thượng thư Võ Trọng Bình, quê ở Mỹ Lộc – một vị đại thần hết sức thanh liêm đang về hưu dưỡng tại quê nhà – ở Mỹ Lộc. Mặc dầu công việc được tiến hành ban đêm hết sức bí mật, nhưng vẫn lọt đến tai bọn Pháp.

Thêm một số tài liệu xung quanh việc đào kho báu của vua Hàm Nghi - Ảnh 1

Bọn Pháp bắt đầu làm khó dễ với Võ Trọng Bình. Thấy không ổn, Võ Trọng Bình cùng một số người thân tín quyết định đem số vàng đó bỏ xuống đò chở ra phá Hạc Hải và đổ xuống phá, kiên quyết không để rơi vào tay bọn Pháp. Việc Võ Trọng Bình đem vàng vua  Hàm Nghi đổ xuống phá Hạc Hải có người biết nhưng không biết đích xác vị trí. Các cụ ở Lệ Thủy kể rằng, trước Cách mạng tháng Tám, có một người chủ nuôi vịt ở đâu không rõ đã đến đấu thầu cánh đồng xung quanh phá Hạc Hải để nuôi vịt, nhưng thực chất là để thuê người lặn tìm vàng của vua Hàm Nghi. Việc làm của chủ nuôi vịt không thể che mắt người dân Lệ Thủy.

Một số người cũng lén lút tham gia vào việc tìm kiếm này. Chủ chăn vịt không biết có tìm được vàng hay không, nhưng có một vài người ở Lệ Thủy tự nhiên làm nhà ngói và giàu có hẳn lên. Có người đoán rằng, chắc họ tìm được vàng ở phá Hạc Hải. Chuyện vàng vua Hàm Nghi gửi ở Lệ Thủy là có thật. Điều đó ủng hộ ý kiến cho rằng đoàn của vua Hàm Nghi đã đến Lệ Thủy rồi mới quay lại Quảng Trị. Vấn đề đặt ra là số vàng gửi lại bao nhiêu thì chưa có câu trả lời.

Và suốt chặng đường hành quân kéo dài gần một tháng trời từ Quảng Trị qua Lào rồi về đến Sơn Phòng, Hà Tĩnh, chắc chắn có một số vàng cũng phải chôn cất dọc đường với lý do đơn giản vì có nhiều người, cũng như voi, ngựa đau ốm rơi rớt lại dọc đường không thể vận chuyển hết được số vàng bạc châu báu lúc đầu. Ngày 26.7.1885, ngự đoàn từ Lệ Thủy vào đến Cam Lộ. Ngày 21.11.1885, ngự đoàn đến Qui Đạt, Quảng Bình. Nếu tính cả thời gian hành quân và thời gian đóng quân ở Sơn Phòng, Hà Tĩnh thì vừa gần 4 tháng. Theo Lê Đức Dục thì số vàng Tôn Thất Thuyết di chuyển từ Huế ra Tân sở là 300.000 lạng, tương đương 11 tấn, gần 1/3 kho nội phủ.

Theo Cao Lượng, nguyên lý trưởng làng Qui Đạt kể và một ngươi Phấp ghi lại thì khi ngự đoàn đến Qui Đạt chỉ còn 3 thớt voi, 5 con ngựa và 50 bảo đài, 50 bảo đài này không chỉ riêng vàng bạc châu báu mà còn có tư trang hành lý của vua và của cả đoàn đựng một trăm thoi, một thoi nặng 100 lạng, như vậy một đài bằng: 100 thoi x 100 lạng x 0,03778gr = 377,8kg, và số vàng 300.000 lạng tương đương 11 tấn sẽ được đóng gọn trong 30 đài. Năm 1956, trong một trận mưa lũ đã làm xói lở bên bờ Bắc con suối chảy qua thôn Đặng Hóa, một đài vàng trồi ra giữa suối. Nhân dân quanh vùng đến thu nhặt.

Nhà nước đã thu gom được 2,5 tạ, còn hơn 1 tạ chắc đang còn trong dân. Từ thực tế này, có tin rằng một đài vang nặng khoảng 3,7 tạ là đúng. Đây là số vàng dự định mang theo để chi dùng nhưng vì tình thế cấp bách nên phải chôn lại. Chúng ta có thể làm một phép tính, lấy số vàng 11 tấn (nếu con số Lê Đức Dục nêu ra là đúng) trừ đi số vàng gửi lại ở Lệ Thủy, số vàng phải chôn lại dọc đường vì không đủ nhân lực để di chuyển, số vàng đã chi dùng cho cả đoàn suốt cuộc hành trình gần 4 tháng thì sẽ còn lại số vàng khi đến đất Qui Đạt.

Nếu lấy một con số khiêm tốn thì trong 50 bảo đài còn lại khi đến Qui Đạt, ít nhất cũng còn 20 bảo đài là vàng bạc châu báu và như vậy khi vua Hàm Nghi đến Qui Đạt, số vàng bạc châu báu còn lại cũng không phải là ít. Đến Qui Đạt chỉ được một thời gian ngắn, quân Pháp lại chiếm Qui Đạt và Tôn Thất Thuyết phải đưa ngự đoàn di chuyển một vài nơi xung quanh Qui Đạt, cuối cùng thì chuyển vào thung lũng Ma Rai. Thung lũng Ma Rai là một địa bàn rất lợi hại. Chiều dài của thung dài hơn 10km, chiều ngang khoảng 2km.

Từ Qui Đạt hoặc Khe Ve muốn vào thung lũng này phải qua hai cái đèo (tiếng địa phương ở đầy gọi là eo). Đèo ông Đùng ở phía Đong, còn gọi là eo Cà Bời. Đèo Lạp Cập ở phía Bắc. Từ thung lũng muốn rút lui có hai con đường: vượt qua núi Pun về phía Tây Bắc để ra Khe Ve; vượt qua dãy Trường Sơn ở phía Nam để lên đèo Mụ Giạ qua Lào. Nhờ địa thế hiểm yếu nên vua Hàm Nghi và Bội chỉ huy Cần Vương đã trấn giữ và ở tại thung lũng Ma Rai này suốt 3 năm (tháng 11.1885 – 11.1888).

Thêm một số tài liệu xung quanh việc đào kho báu của vua Hàm Nghi - Ảnh 2

Chỉ đến khi quân Pháp tiến được vào đèo Lập Cập, Bộ chỉ huy Cần Vương mới quyết định rút khỏi thung lũng Ma Rai theo đường qua núi Pun ra Khe Ve. Trong 3 năm đóng tại thung lũng Ma Rai, Bộ chỉ huy Cần Vương đã liên hệ được với nhiều sĩ phu yêu nước ở các tỉnh miền Trung để chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài. Trong thời gian ba năm đó, Tôn Thất Thuyết hoàn toàn có đủ điều kiện và thời gian để chôn cất kho báu nhằm chuẩn bị cho cuộc chiến đấu lâu dài của nghĩa quân. Kho báu này chỉ là một phần của số vàng bạc châu báu mang đến Qui Đạt.

Trong suốt 3 năm chiến đấu chống các cuộc tiến công của Pháp vào thung lũng Ma Rai, nhóm Cần Vương cũng đã chỉ dùng một số vàng bạc. Đó là chưa kể các khoản chi cho Tôn Thất Thuyết đi Trung Quốc, chi cho Trương Quang Ngọc qua Lào mua thuốc phiện. Tóm lại, việc vua Hàm Nghi còn chôn một số vàng tại thung lũng Ma Rai là rất có khả năng xảy ra. Số lượng bao nhiêu thì chưa biết cụ thể, nhưng chắc không phải là ít. Tọa độ của kho báu ở đâu, đồi Yên Ngựa hay là một nơi nào khác? Nhiều ngươi ở Hóa Sơn khẳng định kho báu nằm ở đồi Yên Ngựa.

Nguyễn Hồng Công và sơ đồ̀ kho báu

Theo Nguyễn Hồng Công cho biết thì sau khi xuất ngũ anh bàn với vợ vay vốn để đi buôn gỗ ở các tỉnh miền Đông. Sau hơn 2 năm buôn gỗ, anh đều thất bại, có lần anh bị bắt cả 9 xe gỗ ở Sông Bé. Sau lần đó, anh bỏ buôn gỗ chuyển sang buôn trầm. Song cũng liên tiếp thất bại, nợ nần chồng chất. Đang lúc túng quẫn, theo lời Công kể, thì tình cờ Công gặp một người có bản sơ đồ về kho báu của vua Hàm Nghi. Thế là như người chết đuối vớ được cọc, Công vui như mở cờ trong bụng.

Lại một lần nưa, vợ Công phải đi vay tiền để Công đi tìm vàng, vì đây là cơ hội duy nhất có thể giúp anh trả hết các món nợ. Có tiền, Công khăn gói lên đường ra Quảng Bình, nói với bạn bè là đi buôn trầm nhưng thực chất là đi tìm kho báu của vua Hàm Nghi.  Cho đến nay, Công chưa hề tiết lộ cho ai biết bản sơ đồ đó, chứ không phải là gia phả như một số người đã viết.

Không biết tác giả Binh Nguyên căn cứ vào đâu mà viết: “Tờ gia phả xưa đã ghi rõ” Hãy tìm về vùng núi Yên Ngựa của địa danh Hóa Sơn, đi ngược lên đỉnh núi nơi có cây lim xẹt cổ thụ trăm năm, dưới thân cây có điểm dấu son màu đỏ, từ đó đi về phía suối tìm gặp một hòn đá hình đầu lâu có khắc chữ vương và đó chính là bản đồ hướng dẫn đi vào kho tàng được chôn cất nhằm phục vụ cho cuộc kháng chiến chống Pháp dự định lâu dài của vua Hàm Nghỉ”. Binh Nguyên không nói rõ tờ gia phả này viết bằng chữ quốc ngữ, chữ nôm hay chư Hán song điều đáng ngờ là lời văn hiện đại quá. Đọc đoạn trích dẫn trên đây chúng tôi băn khoăn không biết đâu là lời của tờ gia phả và đâu là lời của tác giả, nhất là đoạn “nhằm phục vụ cho cuộc kháng chiến chống Pháp dự định lâu dài của vua Hàm Nghi”.

Từ “kháng chiến” thời ấy đã có chưa? Ngay phần đầu của đoạn trích cũng không thể là lời của gia phả, vì địa danh Hóa Sơn sau ngày Cách mạng tháng Tám khá lâu mới có cùng với sự ra đời của 5 xã: Hóa Thanh, Hóa Phúc, Hóa Tiến, Hóa Hợp và Hóa Sơn. Năm xã này có mô hình cấu tạo Hóa + X ra đời sau các xã có mô hình X + Hóa (Qui Hóa, Xuân Hóa, Yên Hóa, Hồng Hóa, Tân Hóa, Trung Hóa, Thượng Hóa.v.v.) ngay khi Cách mạng tháng Tám thành công. Tờ gia phả theo Nguyễn Hồng Công nói phải ra đời cách đây hơn 100 năm, làm sao lại có địa danh Hóa Sơn?

Thêm một số tài liệu xung quanh việc đào kho báu của vua Hàm Nghi - Ảnh 3

Theo Nguyễn Hồng Công thì chính chữ “vương” trên hòn đá hình đầu lâu là sơ đồ hướng dẫn để đi tìm kho báu. Và 14 năm qua, Nguyễn Hồng Công đã cố công đào bại theo sơ đồ đó. Đối chiếu với tư liệu lịch sử, kết hợp với việc khảo sát điền dã tại chỗ ở hai huyện Lệ Thủy và Minh Hóa, trong những lần đàm đạo với Nguyễn Hồng Công tôi đều thống nhất với anh là ở Hóa Sơn – thung lũng Ma Rai – chắc chắn còn một kho báu với số lượng không nhỏ, không chỉ 1,3 tấn mà có thể còn nhiều hơn nữa. Song tôi không đồng ý với Công hai điểm:

– Một là, về tọa độ của kho báu như Công đã xác định.

– Hai là, về những nếp gãy của đá trong lòng đất do kiến tạo địa chất gây ra  mà Nguyễn Hồng Công cứ đinh ninh là có bàn tay con người ghép đá xây lại.

Do nhận thức sai lầm đó, nên Công cứ khẳng định đường hầm Công đào, chính là đường đi vào kho báu. Đi theo hướng đó, càng ngày Công càng chệch xa tọa độ kho báu. Có một điểm rất quan trọng mà anh Công đã bỏ qua, đó là cây ươi ở đồi Yên Ngựa. Dưới gốc cây ươi này, khi cụ Nguyễn Nhuận đào để lấy củi đã bắt gặp một thanh kiếm. Cụ Nhuận cho rằng có lẽ đây là thanh kiếm đã được dùng để chặt đầu những người phu khuân vác vàng vào kho rồi trở ra. Lẽ ra anh Công nên khai thác chi tiết và địa điểm này để xác định tọa độ kho báu.

Về vấn đề thứ hai thì tôi đã hỏi giáo sư, Hà Văn Tấn. Gs. Hà Văn Tấn cũng khẳng định đây là hiện tượng tự nhiên và khá phổ biến, nhất là đối với vùng núi đá vôi như ở Quảng Bình. Tôi cũng đã đến tại chỗ gặp gỡ các cán bộ của xã Hóa Sơn và một số thanh niên đã nhiều lần xuống đường hầm của Công đào và đều nhất trí với nhận định của Gs. Hà Văn Tấn. Ở đây hoàn toàn không có dấu vết bàn tay của con người. Tỉnh Bình Trị Thiên trước đây và tỉnh Quảng Bình hiện nay cũng đã mời các cán bộ địa chất gìau kinh nghiệm đến tại chỗ khảo sát và kết luận không khác: đó chỉ là những nếp gãy của đá do kiến tạo địa chất.

Đáng tiếc là không biết Công hay ai đó đã lấy “mẫu vật” nói là từ dưới đường hầm đó đem về nhờ phân tích và kết luận là “vôi vữa” là do con người tạo ra. Dựa vào kết luận có thể nói là thiếu căn cứ đó, anh Công càng củng cố thêm niềm tin của mình để dấn sâu vào đường hầm không có lối ra. Chỉ còn 1 mét đá thôi và chỉ cần 15 ngày thôi là anh có thể mở được cửa kho báu, thế mà… đằng đẵng suốt 1 năm trời vẫn không thấy gì. Lẽ ra, anh Công phải nhờ một cơ quan chuyên môn có trách nhiệm để họ cử người có kinh nghiệm đến và dùng những thiết bị hiện đại để tại hiện trường lấy mẫu vật, phân tích và kết luận thì anh lại không làm theo qui trình đó mà chỉ tin vào sơ đồ của báu của vua Hàm Nghi.

Nguồn tổng hợp

Thẻ: , , ,

Tin hay cùng chuyên mục