Từ Lăng Ông Bà Chiểu đến phủ thờ Lê Văn Duyệt ở Huế

Từ Lăng Ông Bà Chiểu đến phủ thờ Lê Văn Duyệt ở Huế

Làng Kim Long xưa nằm ở bờ Bắc sông Hương. Vị Chúa Nguyễn thứ ba khi ấy mới kế vị đúng một năm, say đắm trước cảnh sơn thủy hữu tình nên đã dời phủ về làng.

Lăng Ông Bà Chiểu, nơi mai táng Tả quân Lê Văn Duyệt, là một trong những di tích lịch sử – văn hoá tiêu biểu nổi tiếng của mảnh đất Sài Gòn – Gia Định. Song, điều khiến không ít người ngạc nhiên là vị danh tướng kia còn có một từ đường tại phường Kim Long, thành phố Huế.

Đôi nét về Lê Văn Duyệt và lăng Ông Bà Chiểu

Lê Văn Duyệt (1764-1832) là “danh tướng công thần bậc nhất của triều Nguyễn”, là “một nhà chính trị xuất sắc” và là một “người cương trực, ghét xu nịnh”. Tập 2 Từ điển bách khoa Việt Nam (xuất bản năm 2002) nêu nhận định như thế. Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn còn viết: “Duyệt là người thâm trầm, dữ tợn, chiến đấu giỏi”. Hầu hết sử sách đều ghi nhận rằng  Lê Văn Duyệt là người gốc ở huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi, nhưng từ đời ông nội đã vào ngụ cư tại huyện Châu Thành, tỉnh Định Tường, nay là tỉnh Tiền Giang. Tại đây, Lê Văn Duyệt chào đời năm Giáp Thân 1764, là trưởng nam của ông Lê Văn Toại.

Tài liệu Định Tường xưa do Huỳnh Minh biên soạn (NXB Thanh Niên, Hà Nội, 2001; tr. 67) chép rằng Lê Văn Duyệt “tướng người lùn thấp, ăn nói nhanh lẹ tỏ ra thông minh đỉnh ngộ, ngài ưa thích chơi gà nòi (…). Lúc nhỏ, ngài có học chữ nho song ngài không thích lai vãng sân Trình, lại chuyên về võ nghệ”. Xuất thân từ một thái giám trẻ tuổi (ái nam ái nữ bẩm sinh) theo phò tá Nguyễn vương – trở thành vua Gia Long về sau – từ năm Canh Tý 1780, Lê Văn Duyệt sớm bộc lô tài năng thao lược nên liên tục thăng tiến: Nội hậu Cai đội, rồi Diệu vũ Hiệu uý, rồi Tả dinh Đô thống chế.

Từ Lăng Ông Bà Chiểu đến phủ thờ Lê Văn Duyệt ở Huế - Ảnh 1

Lê Văn Duyệt lập được nhiều chiến tích vang dội như thắng Tây Sơn ở của biển Thị Nại (Bình Định) năm Canh Thân 1800 và ở hải khẩu Tư Hiền (Thừa Thiên) năm Tân Dậu 1801, giúp nhà Nguyên tái chiếm kinh đô Phú Xuân. Năm Nhâm Tuất 1802, sau khi lên ngôi, vua Gia Long phong Khâm Sai Chưởng Tả Quân Dinh Bình Tây Tướng Quân và ban tước Quận công cho Lê Văn Duyệt, đoạn phái ông dân quân ra thu phục Bắc Hà. Năm Nhâm Thân 1812, Lê Văn Duyệt vào Nam làm Tổng trấn Gia Định thành, trông coi luôn cả Bình Thuận và Hà Tiên. Năm Bính Tý 1816, Lê Văn Duyệt được triệu về Huế. Năm Kỷ Mão 1819, ông đến vùng Thanh Hoá và Nghệ An làm quan kinh lược.

Năm Canh Thìn 1820, Lê Văn Duyệt trở lại làm Tổng trấn Gia Định thành, tích cực góp công lớn về đối nội lẫn đối ngoại. Không chỉ giữ vững bờ cõi phía Nam, ông còn phát huy uy thế nước nhà ra lân bang (Lào, Campuchia, Thái Lan), khôn khéo ứng xử với giới doanh nhân phương Tây đến buôn bán. Đồng thời, ông đốc thúc quân dân nỗ lực khẩn hoang, lập ấp, đắp đường, xây luỹ, đào kênh, học văn, luyện võ, rèn nghề, tăng gia sản xuất, mở rộng giao thương, đảm bảo xã hội an ninh, công bình, thịnh vượng. Nhân dân thường kính trọng gọi Lê Văn Duyệt là ngài Thượng Công.

Lê Văn Duyệt từ trần đêm 28.8.1832 (30 tháng 7 Nhâm Thìn), hưởng thọ 69 tuổi, được triều đình tặng hàm Thái Bảo, được an táng và lập miếu thờ. Không lâu sau, bà Đỗ Thị Phận, phu nhân của Lê Văn Duyệt, tạ thế và được chôn cạnh chồng tại làng Bình Hoà. Đó là lăng Ông Bà Chiểu, nay tọa lạc trong khu đất 18.500m2 giữa bốn trục đường Vũ Tùng, Đinh Tiên Hoàng, Phan Đăng Lưu, Trịnh Hoài Đức ở địa bàn phường 1, quận Bình Thạnh, TPHCM. Sở dĩ gọi vậy vì di tích này nằm kề chợ Bà Chiểu.

Huỳnh Minh ghi trong tài liệu Định Tường xưa (sđd; tr. 71): “Theo một vài truyền thuyết của các vị bô lão Long Hưng – Định Tường kể lại, ngôi mộ ở Gia Định là nơi ngài trân nhậm xây để tượng trưng, còn ngôi mộ tại Long Hưng chính là nơi ngài gửi năm xương tàn trên mảnh đất quê hương khi ngài xuất thân phò chúa Nguyễn”. Tháng 4.2006, nhà nghiên cứu Lý Việt Dũng đã về xã Long Hưng, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang, tập trung khảo sát bi ký liên quan và khẳng định trên báo Tuổi Trẻ cuối tuần phát hành ngày chủ nhật 21 & 28.5.2006: “Người nằm dưới mộ không ai khác là ông Lê Văn Toại, cha của Tả quân”.

Do quan hệ chính trường đương thời tồn tại lắm rắc rối nội bộ, ngay sau khi Lê Văn Duyệt cùng phu nhân tạ thế, người con nuôi của ông bà là Phó vệ uý Lê Văn Khôi (đúng họ thì Bế Khôi hay Nguyễn Hữu Khôi) bị bắt giữ. Tập 1 Hỏi đáp về Sài Gòn – TPHCM của nhiều soạn giả (NXB Trẻ, 2006; tr. 100) cho hay: “Sau khi vượt ngục, Lê Văn Khôi tập hợp lực lượng và vào tháng 5.1833 giết Bạch Xuân Nguyên (bố chánh), Nguyên Văn Quế (tổng đốc), án sát và lãnh binh bỏ chạy. Lê Văn Khôi xưng làm Đại nguyên soái, phong các chức quan văn võ như một triều đình thực sự”. Cuối năm 1833, Lê Văn Khôi lâm bệnh, từ trần.

Tới năm Ất Mùi 1835, quân triều đình dẹp yên sự biến Phiên An. Lê Văn Duyệt bị khép trọng tội. Theo dụ của vua Minh Mạng, mộ ông bị san bằng, bị xiềng xích, bị dựng bia Quyền yêm Lê Văn Duyệt phục pháp xứ (Nơi tên lại cái lộng hành Lê Văn Duyệt chịu phép nước). Là thái giám, tất nhiên Lê Văn Duyệt không có con ruột. Sinh thời, ông chọn Lê Văn Yến (trưởng nam của Lê Văn Phong – em trai mình) làm con thừa tự. Thật trớ trêu, đích thân vua Minh Mạng từng cho em gái là Nguyên Phúc Ngọc Ngôn, còn được gọi là công chúa An Nghĩa (hoàng nữ thứ 10 của vua Gia Long), kết hôn với Lê Văn Yến vào năm Quý Mùi 1823. Hai người sinh được 3 con trai. Oan nghiệt thay! Vì vụ án Lê Văn Duyệt, phò mã đô uý Lê Văn Yến bị hành hình. Công chúa An Nghĩa nén lệ, thủ tiết, thờ chồng, nuôi con.

Từ Lăng Ông Bà Chiểu đến phủ thờ Lê Văn Duyệt ở Huế - Ảnh 2

Năm 1841, vua Thiệu Trị xuống chiếu huỷ bỏ bia kết tội, tháo xiềng xích và đắp lại mộ Lê Văn Duyệt. Năm 1848, vua Tự Đức truy phục cho Lê Văn Duyệt tước Quận công, cùng các danh hiệu Vọng Các công thần, Chưởng tả quân, Bình Tây tướng quân. Năm 1914, Hội Thượng Công Quý Tế thành lập. Từ đó, tại lăng Ông Bà Chiểu, việc cúng tế được tiến hành thường xuyên và kế hoạch trùng tu các hạng mục công trình được tổ chức đạt quy mô đáng kể. Giai đoạn 1922-1932, xây dựng Trung điện. Năm 1937, xây dựng Tiền điện, Đông lang và Tây lang. Năm 1948, xây vòng thành cao 1,2m với chu vi 500m bao quanh khu di tích. Năm 1949, xây Lễ khách đường và cổng tam quan.

Theo đề án của kiến trúc sư Nguyễn Văn Tân, cổng tam quan với 3 chữ Hán Thượng Công miếu đã trở thành một trong những biểu tượng của Sài Gòn – Gia Định. Năm 1959, tạo lập bồn nước hoa viên và xây dựng Tây điện. Năm 1964, xây nhà kho, nay là nhà hát tuồng. Giai đoạn 1971-1973, xây dựng Chánh điện theo bản vẽ của ông Mohamed Hamin, kiến trúc sư Ấn Độ am tường nghệ thuật xây dựng Việt Nam cổ truyền. Ngày 16.11.1988, Bộ văn hoá công nhận lăng Ông Bà Chiểu là di tích lịch sử – văn hoá cấp quốc gia.

Phủ thờ Lê Văn Duyệt tại Huế

Bên tả ngạn dòng Hương, cách chợ Kim Long một quãng ngắn, phủ thờ Tả quân Lê Văn Duyệt nằm giữa khu vườn cây trái trong xóm nhỏ Phú Mộng. Nhà vườn này hình thành từ năm Ất Hợi 1875, niên hiệu Tự Đức XXIX. Thời điểm ấy là sau khi công chúa An Nghĩa (Nguyễn Phúc Ngọc Ngôn) mất 21 năm, và trước khi vua Tự Đức cấp thêm ruộng thờ tự Tả tướng quân 4 năm. Đại Nam thực lục chính biên của Quốc sử quán triều Nguyễn cho biết: cuối năm Kỷ Mão 1879, vua Tự Đức cấp thêm ruộng để thờ phụng công thân Lê Văn Duyệt.

Nguyễn Phúc tộc thế phả do Hội đồng trị sự Nguyên Phúc tộc biên soạn (NXB Thuận Hoá, Huế, 1995; tr. 263) đã ghi nhận: Ngọc Ngôn chào đời ngày 11.8.1804 (7 tháng 7 Giáp Tý), năm Quý Mùi 1923 lấy Lê Văn Yến, năm Ất Mùi 1835 chồng bị xử tử, năm Giáp Dần 1854 được phong An Nghĩa thái trưởng công chúa, năm Bính Thìn 1856 từ trần lúc 53 tuổi và được ban thuy Trinh Lệ. Thuy hiệu thoạt nghe đã thấy ẩn chứa nhiều xót xa! Đất phủ thờ Lê Văn Duyệt nơi xóm Phú Mộng xưa thuộc loại “thượng vườn hạ biền” rộng 10.000m2. Vì nhiều lý do, cháu chắt họ Lê cắt xén đất để bán dần, khiến khu vườn hiện chỉ còn 2.100m2.

Bước qua cổng, qua tàn cây măng cụt, qua bình phong và bể cạn, khách đã đứng trước ngôi nhà rường ba gian mà ấn tượng đầu tiên đập ngay vào mắt là bốn con  rồng đá uy nghi nằm chầu nơi bậc cấp. Mười hai cánh cửa bàng khoa cùng cột, kèo, rui, mèn đã lên vân đen sẫm. Gian giữa đặt án thờ Tả quân Lê Văn Duyệt. Tấm hình vị danh tướng lộng kính trong khung gỗ sơn màu đỏ. Đồ tự khí khá đơn sơ Thủ từ là Lê Chánh Tuấn – hậu duệ đời thứ 10 của Tả quân Lê Văn Duyệt – chậm rãi pha trà tiếp khách. Tuấn thở dài:

– Tính ra, ngôi nhà rường này đã tồn tại một trăm mấy chục năm. Thời tiết khắc nghiệt, chiến tranh tàn khốc, lại thêm khả năng của gia đình quá hạn chế nên không thể nào bảo quản, duy tu từ đường như ý muốn nổi! Nhà cửa cứ xuống cấp dần. Trên bàn thờ từng có những cổ vật hiếm quý, nhưng sau này bị kẻ gian đánh cắp. Chẳng hạn chén ăn cơm, đôi đũa ngà và chiếc chiếu ngà do dân Chiêm Thành tặng ngài Tả quân. Sau một tiệc cưới tại đây, mấy thứ vô giá đó bỗng… biến mất!

Từ Lăng Ông Bà Chiểu đến phủ thờ Lê Văn Duyệt ở Huế - Ảnh 3

Từ đường Lê Văn Duyệt ở Kim Long

Theo Lê Chánh Tuấn, phủ thờ Lê Văn Duyệt đã được trùng tu nhiều lần, quy mô nhất là vào cuối năm 1960. Hồi ấy, ông Lê Văn Dương (ông nội của Tuấn) được Ban quản trị lăng Ông Bà Chiểu ở Sài Gòn mời vào thăm, rồi biếu 20.000 đồng – thời giá thuở bấy giờ tương đương mấy chục lượng vàng – để về Huế tu sửa từ đường. Còn tấm hình Lê Văn Duyệt trên án thờ ở gian giữa cũng do Ban quản trị lăng Ông Bà Chiểu gửi ra tặng vào năm 2001.

Tôi chất vấn:

– Vậy phủ thờ không còn lưu giữ tài liệu, di vật gì liên quan danh tướng Lê Văn Duyệt nữa ư?

Lê Chánh Tuấn trỏ ba cặp câu đối treo áp vào hàng cột lim giữa nhà:

– Còn mấy cặp câu đối đó! Đặc biệt, còn một số văn bản quý do các vị vua Tự Đúc, Duy Tân và Khải Định ban. Anh muốn xem à?

Tuấn thắp nhang van vái, đoạn mở chiếc tráp gỗ đặt trên án thờ, lấy ra một ống cuốn thư phủ điều. Trong cuốn thư là tờ luận công cố Quận công Lê Văn Duyệt được vua Duy Tân ngự chế năm Nhâm Tý 1912, kích cỡ 1,92 x 0,63m. Nguyên bản viết bằng chữ chân phương đen nhánh trên giấy long đằng màu vàng, mở đầu bằng dòng Thừa Thiên hưng vận – Hoàng đế chế viết (Tuân mệnh trời, hung khởi vận nước – Hoàng đế có lời chế rằng). Cuối tờ chế ghi thời điểm Duy Tân lục niên cửu nguyệt thập ngũ nhật (ngày rằm tháng 9 niên hiệu Duy Tân thứ VI, tức thứ năm 24.10.1912, đúng tiết Sương giáng) có ấn son gồm bốn chữ sắc mệnh chi bảo.

Đây là đôi đoạn đáng chú ý trong tờ chế kia: Nguyên Vọng Các công thần, Tả quân Đô thống phủ, Đô thống Chưởng phủ sự, Quận công cố Lê Văn Duyệt côi lỗi kỳ tài, can tướng vĩ khí. (…) Miếu đình nhi trở đậu sinh hương, mao thổ nhi sơn hà y cựu; nghi kỳ hậu dã, hồng huân do chi ư sử biên”. Tạm dịch: “Cố Quận công Lê Văn Duyệt là bậc kỳ tài hiếm thấy, vị đại tướng gan dạ, nguyên là công thần từng chinh phục Bangkok (Thái Lan), Tả quân Đô thống phủ, kiêm Đô thống Chưởng phủ sự. (…) Nay miếu đình của ngài được trở lại cúng quảy như xưa, vườn nhà được phục hồi như cũ, và còn ghi nhận công lao to lớn của ngài vào sử sách”.

Tôi hỏi:

– Tour du lịch nhà vườn Phú Mộng mở ra từ Festival Huế 2002 có giúp kinh tế gia đình cải thiện phần nào chăng?

Tuấn cười buồn:

– Xin kể chuyện Festival Huế 2002. Thoạt đầu, 7 nhà vườn trong xóm Phú Mộng được chọn làm điểm tham quan. Phủ thờ Lê Văn Duyệt được gọi là điểm tham quan số 1. Vé bán 5.000 đồng cho mỗi khách tham quan và quy định chia chác: 40% UBND phường Kim Long hưởng, 60% phân đều cho 7 nhà. Một hai bữa đầu, người ta còn mua vé. Sau, chẳng ai mua. Hơn nữa, xóm này nối đường Kim Long ra đường Vạn Xuân, dân cư thường xuyên qua lại, làm sao kiểm tra vé nổi? Rồi khách vào thăm, chủ nhà cũng khó mở miệng hỏi vé. Mà không có cuống vé thì không được ăn chia. Khổ!

Năm 2002, mái phủ thờ Lê Văn Duyệt là những tấm tôn rỉ sét. Một số vì kèo chạm trổ bị hư hỏng, phải thay bằng các thanh tre. Năm 2003, nhờ tiền bán đất, gia đình Lê Chánh Tuấn đầu tư 140 triệu đồng tu bổ từ đường, lợp lại mái ngói, sửa chữa nên và tường, cơi đôi chái vảy. Tháng 7.2005, xóm Phú Mộng được nâng cấp thành đường Phú Mộng. Nguyên Thị Minh Trang – vợ của Lê Chánh Tuấn – không xuôi ngược buôn bán trái cây nữa mà mở quán Vườn Sinh Thái bên hông nhà để kinh doanh các mặt hàng lưu niệm và giải khát.

Festival Huế 2004 và 2006, phủ thờ Lê Văn Duyệt ở Kim Long là một trong những địa chỉ thu hút du khách ghé cô đô. Làm thế nào nơi đây quy tụ đông người vào dịp sinh nhật và ky giỗ Tả quân, cùng các ngày lễ Tết như Nguyên đán, Nguyên tiêu, Đoan ngọ, Vu lan, Trung thu nhỉ?

Nguồn tổng hợp
 

Thẻ: , ,

Tin hay cùng chuyên mục