Tuồng là gì? Vì sao lại được vua chúa “sủng ái”

Tuồng là gì? Vì sao lại được vua chúa "sủng ái"

Tuồng là nét văn hóa kịch hát đã có từ thế kỷ XIV xong thời ấy chưa được dân gian quan tâm nhiều, do đời sống sinh hoạt thời ấy còn lạc hậu.

Văn hóa kịch hát tuồng chỉ thực sự phát triển khi các vua Chúa nhà Nguyễn bắt đầu có sở thích ca múa nhạc hội chứ còn thời Lê không xem trọng bộ môn nghệ thuật này còn coi đó là thiển dân.

Tuồng là gì ?

Tuồng còn gọi hát bội hoặc hát bộ, từng được xem là “quốc kịch” của Việt Nam. Thời trước, dân ta có tục bói tuồng đầu xuân: từ mùng 1 tới mùng 10 Tết, mua vé vào xem giữa lúc vở hát bội đang diễn, hễ gặp cảnh ngộ nào xuất hiện trên sân khấu thì dựa theo mà suy đoán vận số mình trong năm mới. Đương nhiên, bói tuồng là trò giải trí chứa đựng yếu tố mê tín. Giờ đây, chúng ta “bói tuồng” kiểu khác: thư điểm qua bước đường thịnh suy của tuồng để có cơ sở dự báo tương lai cho chính… bộ môn nghệ thuật truyền thông độc đáo này.

Bói tuồng có thể coi được vận số trong năm tớiBói tuồng có thể coi được vận số trong năm tới

Nguồn gốc của hát bội ?

Tuồng – loại hình kịch hát đặc thù của Việt Nam, vốn có gốc gác lâu đời từ các hình thức diễn xướng dân gian và được thư tịch ghi nhận thời điểm chính thức xuất hiện là vào thế kỷ XIV, đời Trần. Theo Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên, trong cuộc chiến tranh chống Nguyên Mông xâm lược, quân đội nhà Trần bắt được tù binh Lý Nguyên Cát là một kép hát tên tuổi ở phương Bắc.

Triều đình bèn dùng họ Lý để truyền thụ nghệ thuật biểu diễn cho con cái thế gia vọng tộc. Tiếp nhận nhiều điểm phù hợp trong hí khúc Trung Hoa, kết hợp khéo léo với nền ca múa nhạc bản địa, tuồng Việt ra đời. Sử gia Ngô Sĩ Liên ghi nhận: “Nước ta có tuồng truyện bắt đầu từ đấy”.

Sự ảnh hưởng của hí khúcTrung Hoa vào tuồng Việt, như chúng ta sẽ thấy, không chỉ diễn ra một lần. Tuy nhiên, trên tiến trình giao lưu văn hóa, tuồng Việt dần tạo lập những đặc trưng riêng biệt.

Thời Lê coi nghệ thuật sướng diễn là bậc "trộm cướp"

Từ thế kỷ XV, nhà Lê quan niệm nghệ thuật sân khấu là trò du hí tiểu nhân, ban hành văn bản quy định địa vị xã hội của diễn viên ngang hàng… trộm cướp! Chính sách hà khắc ấy đã khiến tuồng chẳng thể phát triển suốt thời gian dài, ít ra ở Đàng Ngoài đến thế kỷ XVI – XVII. Bằng chứng là danh sĩ Đào Duy Từ (1572 – 1634) dù nổi tiếng thông minh va học giỏi vẫn bị cấm thi cử chỉ vì xuất thân trong gia đình “xướng ca vô loại”.

Vì thế, mùa đông năm Ất Sửu 1627, Đào Duy Từ bỏ quê Thanh Hoá, trốn vào Đàng Trong và được chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên tin dùng. Mà các chúa Nguyễn thì rất thích tuồng. Nghệ thuật hát bội, đối với vua chúa nhà Nguyễn, đâu chỉ để giải trí đơn thuần. Hát bội còn là công cụ tuyên truyền đầy hấp dẫn cho hệ thống chính trị và đạo đức mà họ đề cao. Tuồng đã tìm thấy đất dung thân. Vở tuồng Sơn hậu là kịch bản thành văn đầu tiên tương truyền do Đào Duy Từ khởi thảo vào giai đoạn phục vụ dưới trướng chúa Sãi.

Triều đại Tây Sơn cũng ưa chuộng tuồng. Bản thân hoàng đế Quang Trung thuở thiếu thời từng làm… kép hát bội. Không ít tướng lĩnh Tây Sơn vốn là đào kép phường tuồng. Giọng nói mạnh mẽ của dân Bình Định cùng đòn thế võ Bình Định đã để lại dấu ấn đậm nét trong bộ môn nghệ thuật này.

Một tư liệu quý, giúp hậu thế thấy rõ cảnh diễn tuồng cuối thế kỷ XVIII: bức tranh màu tả thực in trong tập A voyage to Cochinchina in the years 1792 and 1793 (Chuyến du lịch Nam kỳ những năm 1792 – 1793) của J. Barrow xuất bản năm 1806 tại London, Anh quốc. Trang 395, tập 1 bộ Lịch sử Việt Nam do Ủy ban khoa học xã hội Việt Nam biên soạn (Nxb Khoa học xã hội, HN 1971) cũng sử dụng tranh ấy để minh họa.

Tuồng được phát triển cực thịnh dưới thời vương triều Nguyễn

Niên hiệu Minh Mệnh thứ V (1825), Thanh Bình từ đường được thành lập. Đây là nhà thờ tổ của ngành hát bội nói riêng, của giới sân khấu Việt Nam nói chung. Bao quanh từ đường là Thanh Bình thự, cơ quan quản lý việc múa hát cung đình và đào tạo nghệ nhân từ lứa tuổi đồng ấu. Di tích này hiện tại tọa lạc tại kiệt 5 đường Chi Lăng, TP.Huế; được Bộ văn hóa thông tin xếp hạng “Di tích lịch sử – văn hóa” ngày 23.6.1992.

Niên hiệu Minh Mệnh thứ VI (1826), Duyệt Thị đường là nhà hát tuồng quốc gia được xây dựng quy mô trong Tử cấm thành. Dịp ngũ tuần đại khánh của nhà vua, vở tuồng Quần tiên hiến thọ do Nguyên Bá Nghi soạn đã được công diễn. Điều thú vị là đích thân vua Minh Mệnh trực tiếp tham gia viết một đoạn trong kịch bản. Giai đoạn đó, triều đình còn mời một kép hát người Hoa là Càn Cương Hầu (Cang Cung Hầu) tới kinh đô dạy điệu hát khách. Điệu này được đưa vào tuồng vốn sẵn điệu hát nam và điệu niêu nồi, làm phong phú thêm phần âm nhạc của nghệ thuật hát bội. Ngôi mộ Càn Cương Hầu hiện nằm dưới chân núi Ngự Bình.

Vua Tự Đức chấp chính, tuồng được nâng cao và hoàn bị về nhiều phương diện. Vị hoàng đế hay chữ ấy cho xây thêm Nhà hát tuồng Minh Khiêm đường trong Khiêm cung (lăng Tự Đức ngày nay), chiêu tập kép hay, đào đẹp" về Phú Xuân; lại tổ chức Ban hiệu thư chuyên sáng tác, nhuận sắc, hiệu đính kịch bản tuồng, chuyển “phương bản” thành “kinh bản".

Ban hiệu thư quy tu nhiều bậc uyên áo và tài hoa như Nguyễn Hữu Đĩnh (tức Nguyễn Hiển Dĩnh), Ngộ Quý Đồng, Hồ Quỳ Thiều, Trương Quốc Dụng, Võ Duy Tịnh    mà đứng đầu là Đạo Tấn (1845 – 1907). Trước kiạ, mỗi vở tuồng chỉ gồm 1 -3 hồi, mỗi hồi diễn một đêm. Đến giai đoạn này xuất hiện những vở “kỳ vĩ trường thiên” như Học lâm (20 hồi) hoặc Vạn bửu trình tường (216 hồi – nghĩa là diễn liên tục từ đầu đến cuối phải mất gần năm trời). 

Các vị vua Nguyễn kế tiếp thảy đều trọng thị nghệ thuật hát bội. Vua Thành Thái có lúc thủ vai Thạch Giải Trại trong vở xảo Tống. Cùng với các nhà hát cung đình, nhiều rạp tuồng “mini” được dựng trong phủ đệ của hoàng thân quốc thích. Khắp tỉnh thành từ Bắc chí. Nam, dân chúng đua nhau lập đoàn tuồng, gánh tuồng tự nhận để diễn cố định hoặc lưu diễn. Hầu hết địa phương, mỗi lần hội hè, tế lễ, thảy đều dựng rạp, mời nghệ nhân đến hát tuồng. Đặc biệt, dịp Tết Nguyên đán hằng năm, trong thành ngoài nội đâu đâu cũng diễn tuồng khiến thiên hạ say mê tới mức:

Hát bội làm tội người ta,

Đàn ông bỏ vợ, đàn bà bỏ con!

Nghệ nhân hát tuồng được trang điểm mặt rất kỹ

Bước sang thế kỷ XX, tuồng vẫn giữ vai trò "quốc kịch”

Trong sách Nghệ thuật hát bội Việt Nam (NXB Văn hóa, HN 1994), GS. Nguyễn Lộc viết: “Có thể nói trong suốt thế kỷ XIX cũng như trước đó và non hai thập niên đầu của thế kỷ XX, hát bội gần như chiếm độc quyền trên toàn bộ sân khấu biểu diễn ở nước ta. Trong thời kỳ này ta biết ở đồng bằng Bắc Bộ còn có chèo và múa rối. Nhưng cả hai loại hình nghệ thuật sân khấu này đều là sân khấu dân gian và nó cũng chỉ tồn tại ở nông thôn miền Bắc chứ chưa bao giờ có quy mô toàn quốc như hát bội”.

Riêng tính tại Huế những năm đầu thế kỷ XX, không kể các nhà hát cung đình, đã có 14 rạp tuồng phục vụ quần chúng. Nổi tiếng nhất là rạp Đồng Xuân Lâu mà dân địa phương quen gọi “rạp Bà Tuần” vì do phu nhân của Tuần phủ Đặng Ngọc Oanh đầu tư xây dựng năm 1923 ở phố Ngã Giữa – sau đổi thành đường Phan Bội Châu, nay là đường Phan Đăng Lưu. Cần nói thêm rằng song song với dòng tuồng cung đình (tuồng ngự), dòng tuồng dân gian vẫn tiếp tục nẩy nở tạo nên Vẻ đẹp thú vị và phù hợp với thị hiếu của đại đa số quần chúng; trong đó có lắm vở tuồng hài đã làm sân khấu hát bội sôi động hẳn nhờ gắn bó hiện thực cuộc sống “bụi bặm đời thường”.

Thực ra, không ít tuồng hài hước diễu cợt thói hư tật xấu của con người hoặc châm chọc quan viên nhũng nhiễu lại được sáng tác ngay chốn nha môn. vở Trương Ngáo, tiêu đề khác là Thằng Ngáo đúc chuông, vốn của thầy Đội Em làm việc tại Thanh Bình thự ! Vở Nghêu, sò, ốc, hến, nguyên đề là Di tình, có tài liệu cho rằng do Tuy Lý Vương Miên Trinh (hoàng tử thứ 13 của vua Minh Mệnh) soạn thảo.

Trước đây, tuồng được phân làm 2 loại chính: tuồng đồ và tuồng pho. Tuồng đồ không theo tích truyện Tàu, ví dụ các vở Quần tiên hiến thọ, Quần phương hiến thụy, Vạn bửu trình tường, Lý Phụng Đình,… Tuồng pho dựa vào tích truyện Trung Hoa, như các vở Đãng khấu, Tống sử, Hộ sanh đàn, Phong thần, Trầm hương các, Tiết Giao đoạt ngọc, Tống Địch Thanh, Chung Vô Diệm,… Kể từ năm 1911, nhà ái quốc Phan Bội Châu (1867 – 1940) sáng tác tuồng Trung Nữ Vương, làm dấy lên phong trào soạn vở có nội dung rút từ sử Việt: Đông A song phụng của Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Trãi của Từ Diễn Hồng, Nghĩa nặng tình sâu tức Mỵ Châu – Trọng Thủy của Hoàng Tăng Bí…

Một xu hướng nữa góp phần cách tân tuồng bản cần ghi nhận: chuyển thể kịch Tây phương thành tuồng Việt mà người tiên phong là nhà thơ Ưng Bình Thúc Gia Thị (1877 -1961; cháu nội của Tuy Lý Vương) với vở hát bội Lộ Địch phóng tác từ vở kịch Le Cid của pierre Corneille (1606 – 1684; Pháp), vở tuồng đã ấn hành năm 1936, tái bản năm 1954 và 1992, theo ý kiến của Tôn Nữ Hỷ Khương (ái nữ của Ưng Bình) thì: “Trong sự nghiệp thi ca của Ưng Bình Thúc Gia 

Thị, xét về mặt nghệ thuật, văn chương, có lẽ những gì sáng giá nhất đều nằm trong cuốn tuồng này” Từ xuất hiện đến nay, vở tuồng đã được diễn đi diễn lại nhiều lần.

Thời kỳ văn học nghệ thuật được xem trọng

Trở lại giai đoạn 1930 – 1945. Đó là thời hưng thịnh của văn học nghệ thuật lãng mạn, có những tác động nhất định đối với sân khấu tuồng. Những vở gọi là “tuồng tiểu thuyết" mang cốt truyện tình yêu nam nữ thị dân éo le mùi mẫn trở thành “gu” thời thượng. Chẳng hạn vở Lỡ chuyến xe hoa của Nguyễn Châu Thành. Nhưng vở ấy được xem là bước thử nghiệm cho dòng tuồng khai thác đề tài đương đại về sau. Đó cũng là thời cải lương vừa trải qua quá trình hình thành và đang phát triển mạnh. Không ít gánh tuồng tìm cách thu hút khán giả bằng cách “cải lương hoá” và cả “kịch nói hóa” nghệ thuật hát bội cổ truyền.

Từ năm 1954, ở miền Bắc, sau một số năm cấm diễn tuồng vì xem đấy là “sản phẩm phong kiến”, Nhà nước đã chủ trương phát huy văn hoá dân tộc và quan tâm đến các bộ môn hát bội, chèo, cải lương. Trên cơ sở Đoàn tuồng liên khu 5 tập kết, phối hợp một bộ phận nghệ nhân ‘tuồng Bắc" ở các tỉnh Nghệ An, Thanh Hoá trở ra, Nhà hát tuồng Việt Nam được thành lập năm 1959 tói Hà Nội, về sau đổi tên thành Nhà hát tuồng Trung ương, ở miền Nam, hoạt động nghệ thuật chủ yếu do tư thương đầu tư và điều khiển.

Thể kỷ XXI tuồng bắt đầu được thịnh hành

Một hội đoàn tư nhân lấy tên “khuyến lệ cổ ca” ra đời với mục tiêu phục hưng hát bội. Trong Trường quốc gia âm nhạc và kịch nghệ Sài Gòn (nay là Nhạc viện TP.HCM), hát bội cũng được giảng huấn. Khi cần giới thiệu tuồng Việt với quan khách nước ngoài tại Sài Gòn, tại Manila (Philippines) hoặc tại Hội chợ quốc tế Osaka (Nhật Bản),…, thì chính quyền Sài Gòn đã cử đoàn Ba_Vũ từ Huế đi trình diễn. Giai đoạn đó, dẫu gặp nhiều khó khăn do thời cuộc, các công trình khảo tả, nghiên cứu về tuồng vẫn được xúc tiến.

Đó là các công trình của Nguyễn Nho Túy, Hoàng Châu Ký, Nguyễn Lai, Lê Ngọc Cầu, Vũ Ngọc Liễn,…thực hiện ở miền Bắc; và của Vương Hồng Sển, Hồ Hữu Tường, Nguyễn Văn Quỷ, Huỳnh Khắc Dụng, Đinh Bằng Phi,…, xuất bản ở miền Nam. Một số sinh viên, nghiên cứu sinh bấy giờ đã chọn tuồng làm đề tài luận văn. Ví như Tôn Thất Bình với tiểu luận cao học về giá trị văn chương và nghệ thuật của vở tuồng Sơn hậu (Đại học Văn khoa Sài Gòn 1969). Ở hải ngoại, các học giả Trần Văn Khê, Emile Gaspardone, Jules le Maitre cũng bắt tay nghiên cứu tuồng và có những đánh giá cao đối với nghệ thuật hát bội Việt Nam.

Tuy nhiên, vấn đề nghiên cứu và đào tạo, sáng tác và biểu diễn tuồng trong hoàn cảnh chiến tranh ly tán chắc chắn bị hạn chế nhiều mặt, dù ở nơi đâu. Do đó, lực lượng nghệ sĩ cũng như giới hâm mộ nghệ thuật hát bội tha thiết trông chờ ngày Tổ quốc Việt Nam hòa bình và thống nhất…
 

Nguồn tổng hợp

Thẻ: , , , , , ,

Tin hay cùng chuyên mục